Thông báo

Icon
Error

3 Trang<123>
Tùy chọn
Xem bài viết cuối Go to first unread
Quang Tue  
#21 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
Quang Tue

Danh hiệu: Newbie

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 0

Được cảm ơn: 2 lần trong 2 bài viết
Tứ Sự Cúng Dường Dám Tứ Đâu,
Muôn Lượng Vàng Ròng Cũng Tiếu Nốt.
Thân Nát Xương Tan Chưa Đủ Đền,

Thầy của ta hướng dẫn cho ta vượt qua thuận nghịch duyên
, Thầy của ta chỉ cho ta con đường đi đến giải thoát, Thầy của ta chỉ cho ta thấy bản tánh như lai muôn ức hằng có. Thì tứ sự cúng dường kia, muôn lượng vàng ròng kia, dù cho thân nát xương tan cúng dường đến Thầy cũng chưa đủ đền được công đức đó của Thầy.


Công đức vô lượng của Thầy biết đến kiếp nào mới trả hết.

Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm
ThanhHung  
#22 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1703 lần trong 345 bài viết

PHẨM 20


Chánh Văn

Hành Diệc Thiền, Tọa Diệc Thiền.
Ngữ Mặc Động Tịnh Thể An Nhiên.
Túng Ngộ Phong Đao Thường Thản Thản,
Giả Nhiên Độc Dược Dã Nhàn Nhàn.

Dịch Nghĩa


Đi Cũng Thiền, Ngồi Cũng Thiền.
Nói Nín Động Tịnh Thể An Nhiên.
Dẫu Gặp Gươm Đao Thường Phẳng Lặng,
Ví Nhằm Thuốc Độc Vẫn Nhẹ Tênh.


Tâm hạnh ngay đây của đức Huyền Giác nói lên tính thiền, mà đã là thiền thì không nhất thiết phải ngồi hay nằm, vì việc ngồi và nằm đó là thể hiện ở cái thân. Còn thiền là thể hiện ngay chỗ sống thực tại của bản tâm. Chúng ta ngồi nhắm mắt lại, thân không động mà trong tâm ta nó lăng xăng loạn động đủ điều, thì như vậy có thiền không? Còn nếu như trong đi đứng nằm ngồi, luôn lúc nào cũng tỉnh giác, lấy cái biết không sinh diệt của mình mà quán soi sự vật, vạn pháp. Biết vạn pháp, sự vật là huyễn hợp không chấp dính nơi tâm sanh diệt đó. Ngay đó đối duyên chỉ biết chân thật vậy thôi, đừng dính vào hình tướng vọng niệm đó mà chấp rồi phân biệt vật đó tốt xấu, thiện ác. Ngay nơi tâm đó chúng ta cũng không chấp dính vào tướng Định, Tỉnh thể hiện ra đó. Nếu chấp dính vào đó thành ra chúng ta chấp vào “Tịnh vọng”. Cái Tịnh do vọng phân biệt từ nội tâm mà ra. Nếu động không chấp, tịnh không chấp bỏ luôn cái không chấp đó nữa lòng an nhiên tự tại. Lấy cái tâm đó đi đứng nằm ngồi thì mới thật là thiền. Như vậy ngay tâm đó là thiền, thiền như vậy, thì tất cả cuộc sống của mình đều là thiền cả. Vì tất cả đến đều biết tỉnh giác.

Còn nếu ta cứ nói thiền bằng miệng, rồi lấy cái thân thúi tứ đại tan rã này ra ngồi hàng mấy tiếng, mà tâm luôn xao động, hay tâm vô ký không nghĩ gì như gỗ đá. Thì thật là ngu muội. Vì thân sẽ bị hoại, có sanh ắt có tử. Thiền mà chấp chặt phải ngồi và nằm như vậy, thật nặng nhọc ràng buộc trong pháp tu của mình.

Sanh tử xưa nay tự tánh không, thân huyễn hóa duyên hợp này rồi sẽ mất. Sanh tử là do nghiệp lực chiêu cảm, mà nghiệp có là do vọng tâm mà sanh khởi. Vọng tâm là nhân mà sanh tử là quả. Vọng tâm kia là do duyên hợp huyễn thành không thật, thì quả của nó là sanh tử thì cũng đâu có thật. Như vậy sanh tử xưa nay cũng không thật, do sự huyễn hóa mà nên, thì tất phải bị hoại. Mà thân tứ đại hủy hoại, thì không thể chấp nê, lấy thân này để ngồi thiền. Cho rằng như vậy là thiền. Nếu đã là thiền thì không nhất định chấp ở một khía cạnh nào cả.

Đi Cũng Thiền, Ngồi Cũng Thiền.
Nói Nín Động Tịnh Thể An Nhiên.

Ở phẩm này, người hành giả Mật chú Chuẩn Đề sẽ thể hiện thần chú Chuẩn Đề qua đi đứng nằm ngồi, nói cũng thiền, nghe cũng thiền. Vì tâm của họ luôn thể hiện lên – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, trong mọi hành trạng đi đứng nằm ngồi, trong công sở, công viên hay lúc nói tiếp chuyện, luôn lúc nào cũng nổi – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, từ trong nội thức, vọng thức, vọng tưởng cũng từ trong tâm đó ra – Úm Chiết Lệ cũng từ trong nội tâm mà ra. Khi mọi thứ vạn niệm đều là – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, thì tất cả vọng niệm, vọng thức đều bình đẳng, đã bình đẳng thì tâm nhẹ nhàng, thanh thản, tự do tới lui không vướng bận. Ngay đó là sự thể hiện Thiền Mật, Hiển Mật viên thông.

Dẫu Gặp Gươm Đao Thường Phẳng Lặng
Ví Nhằm Thuốc Độc Vẫn Nhẹ Tênh.


Bốn câu thơ trên ngài Huyền Giác chỉ ngay chỗ sự sống của mình. Ngay nơi đây, người hành giả Mật chú Chuẩn Đề luôn lúc nào cũng tỉnh giác, lấy cái lý thiền vô ngã, không tướng trên mà làm hướng đạo, lấy Mật chú – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề làm chủ đạo, hãy hàng ngày ta cứ niệm từng chữ, từng âm thanh rõ ràng, qua cái biết từng chữ, từng âm thanh đó để ta tự tỉnh giác ngay chỗ đó, biết cái biết chân thật kia để một ngày hoa vẫn rơi, gió vẫn thổi, đói ăn ,khát uống – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.

Thí dụ, ngay bây giờ chúng ta nghe những tiếng động âm thanh bên ngoài, rồi ngay nơi đó tìm lại cái nghe của mình coi có hình dáng gì không? Khi chúng ta quán soi, tìm lại thì không có hình dáng, mà lúc nào ta cũng nghe biết (Phải quán nghe – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm”, tánh nghe như vậy, đâu phải hư không, không có gì?! Nếu nó là hư không, thì đâu có biết nghe, khi nghe huân tập cái nghe, chúng ta biết tiếng đó là người, là vật, là xe. Nhưng đừng phân biệt vọng động, ngay nơi đây chỉ biết – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, biết rõ ràng âm thanh vang lên như vậy. Thì ngay đó là tánh nghe thường hằng, nó nằm trong – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.

Sắc Tức Là không, Không Tức Là Sắc,
Ba Đời Như Lai Phương Tiện Đặt.
Không Vốn Không Sắc, Sắc Không Không
Thể Tánh Sáng Ngời Không Được Mất

Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.







Cư Sĩ Thanh Hùng
Pháp Hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:14:51(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#23 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1703 lần trong 345 bài viết
PHẨM 21



Chánh Văn

Ngã Sư Đắc Kiến Nhiên Đăng Phật.
Đa Kiếp Tàng Vi Nhẫn Nhục Tiên.
Kỷ Hồi Sinh, Kỷ Hồi Tử,
Sinh Tử Du Du Vô Định Chỉ.
Tự Tùng Đốn Ngộ Liễu Vô Sanh,
Ư Chư Vinh Nhục Hà Ưu Hỷ.


Dịch Nghĩa

Thầy Ta Gặp Được Nhiên Đăng Phật,
Nhiều Kiếp Làm Tiên Nhẫn Nhục.
Bao Lần Sinh, Bao Lần Tử,
Tử Sinh Dằng Dặc Không Ngừng Dứt.
Từ Khi Chóng Ngộ Tỏ Vô Sinh,
Nào Phải Mừng Lo Cơn Vinh Nhục.



Ngay đây ngài Huyền Giác nói “ Thầy ta”, tức là nói đến Đức Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật đã gặp Đức Cổ Phật Nhiên Đăng. Ngài đã từng cúng dường lấy áo, thân mình, tóc mình để lót đường cho đức Nhiên Đăng. Đức Thích Ca đã từng dâng cúng những gì quí giá nhất trong thời đó đến với đức Phật Nhiên Đăng, và đã từng được đức Nhiên Đăng Cổ Phật thọ ký: “Sau này sẽ thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni Phật”.

Thầy Ta Đã Gặp Được Nhiên Đăng Phật

Và đức Huyền Giác cũng nói rằng đức Phật Thích Ca đã từng nhiều đời, nhiều kiếp làm tien nhân, nhẫn nhục chịu cức khổ, chịu mọi điều khổ ải để hóa độ chúng sanh và hoằng dương Phật pháp. Ở trong kinh kim cang đức Phật đã nói với ngài Tu Bồ Đề rằng: “Ta nhớ kiếp quá khứ trong năm trăm đời làm vị Tiên nhẫn nhục, ở trong những đời đó không có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sinh, tướng thọ giả…”.

Ở đây đức Phật nói trong năm trăm năm đời làm Tiên nhẫn nhục, những đều không có tướng ngã. Nếu không có tướng ngã, thì trong cuộc sống, sự sống của Ngài, Ngài không có thọ cảm, chấp mắc vào một vấn đề nào cả. Một vị Tiên cũng tu học, cũng đi đứng nằm ngồi, cũng sống, cũng ăn mặc, đói khát như mọi người. Nhưng ngay nơi đây, mọi vấn đề, mọi pháp đến với Ngài đều bình đẳng, không có sự hơn kém, tốt xấu, buồn vui thiện ác. Vì mọi vật, mọi pháp ở đây đối với Ngài đều vô ngã, vô tâm. Vì tâm kia sinh diệt hư huyễn, nên không dính vào với Ngài. Ngài không chấp vào ngã tâm ấy, luôn cả cuộc sống an tịnh tu học diễn ra trong tâm thức Ngài cũng đều không dính mắc, vì nếu dính mắc trong cái tịnh đó thì thuộc “ tịnh vọng”. Mà tịnh biết nó đã hằng có từ đời này qua đời nọ. Năm trăm lần làm vị Tiên nhẫn nhục đó Ngài, thân Ngài là cái tịnh biết hằng có. Nó không hình tướng, cũng không có cái không hình tướng đó, nhưng nó luôn quán soi trong vạn pháp, vạn vật. Cho nên Ngài không có tướng thọ giả, tướng chúng sanh là vậy.

Có những kiếp Tiên nhẫn nhục như: Ngài đã từng bị người cắt đứt tai, rồi chân tay của mình mà nét mặt, tâm thức không biến đổi vọng động. Vì chân tay đó, những thọ cảm, thọ giả đó Ngài không có dính mắc vào đó. Ngay nơi bị chặt tay chân đó Ngài vẫn tỉnh giác biết đó là như vậy. Nhưng ngay đó Ngài xa lìa không dính mắc vào sự phân biệt là ta bị như vậy, là đau khổ, là nghiệp nặng. Hay ta làm như vậy để gánh tội cho người, một loạt phân biệt thị phi như vậy. Ngài hoàn toàn không có đó, vì Ngài đã hoàn toàn vô ngã, không tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Không chấp dính vào sự đau khô rã rời thân xác, thì không có tướng chúng sanh. Một con vật, một con người, khi bị hại đến bản thân thì đau khổ, hay là khóc lóc để tỏ vẻ bảo rằng thân tôi bị hại, tôi không muốn điều đó. Như vậy đó là tướng nhân, tướng thọ giả. Ngài đã thị hiện năm trăm năm vị Tiên nhẫn nhục đó. Làm được những điều nhẫn nhục đó là do vô ngỗ, không chấp dính mắc vào những tướng pháp trên. Từ đó mới trở thành những vị Tiên nhẫn nhục, sự nhẫn nhục vô sinh ở ngay đây. Sự nhẫn nhục đó cũng không do Ngài sinh ra, cũng không do tập nghiệp sinh ra, mà nó phát từ cái tâm diệu hữu ở tâm Thanh tịnh mà ra. Cho nên nó hoàn toàn vô sinh. Nếu ở một thân người để chịu đựng nhận nhục đó là có tướng nhân để dinh nhẫn nhục. Ngay đây Ngài không có những cái đó.

Nhiều Kiếp Từng Làm Tiên Nhẫn Nhục
Bao Lần Sinh, Bao Lần Tử,
Tử Sinh Dằng Dặc Không Ngừng Dứt.
Từ Khi Chóng Ngộ Tỏ Vô Sinh,
Nào Phải Mừng Lo Cơn Vinh Nhục.


Trên kia đã nói qua ở sự không có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sinh, tướng thọ giả. Từ những cái lý diệu nghĩa đó mà thoát qua tất ca những khổ đau luân hồi, mặc nhiên tùy duyên mà sống an nhiên tự tại. Còn ngược lại, nếu chúng ta chấp chặc vào thân này, cho rằng nó có thật. Chấp vào sự thọ giả, cho rằng những cảm giác vui buồn được mất ấy đều là thật. Rồi từ đó phân định ra thiện ác, ta người, ngã chấp pháp, chấp dẫy đầy. Thì vọng tâm đó sẽ dẫn ra đi trong lục đạo luân hồi sinh tử trầm luân khó thoát khỏi.

Bao Lần Sinh Bao Lần Tử
Tử Sinh Dằng Dặc Không Ngững Dứt


Tử Sinh đó nó cũng từ trong tâm ta mà có cả, vọng tưởng ấy cũng từ trong tâm mà ra. Ngay đó ta tỉnh giác biết cái lăng xăng vọng động không thật đó đừng theo, chỉ biết thôi. Thì ngay đó tâm sẽ lặng.

Từ Khi Chóng Ngộ Tỏ Vô Sinh
Nào Phải Mừng Lo Cơn Vinh Nhục

Trong cái lăng xăng loạn động đó có cái không loạn động. Từ cái niệm có đến niệm không, sự chuyển hóa từ cái này đến cái kia, nó đều hiện hữu lên ngay đó cái biết. Nếu cái biết không hiện hữu ngay đó thì ta không biết, mà khi đã biết được, thì cái biết cũng hiện hữu lên ngay cái đó. Như vậy cái biết đó nó có phân biệt, có lăng xăng loạn động khổng? Nếu nó lăng xăng loạn động, thì nó không hiện hữu từ cái này qua cái kia, từ tỉnh qua động, từ động qua tỉnh nó luôn chuyên chở vạn niệm. Nếu nó đã chuyên chở được vạn niệm, nó đều có mặt trong tịnh và động, tức là nó vô sinh. Khi đã vô sinh thì tất cả chuyện thị phi vinh nhục không còn nữa, mọi vấn đề đều bình đẳng.

Trên cái lý vô sinh pháp nhẫn này, người hành giả Mật chú Chuẩn Đề phải quán soi kỹ ngay nơi đây. Rồi lấy Mật chú Chuẩn Đề - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, ngày lại ngày qua từng giây phút nghe nó động chuyển trong từng giác niệm, khi niệm như vậy hoàn toàn không dính vào sự niệm, ai niệm không cho mình đang niệm, vì mình đang niệm tất là có tướng nhân, tướng thọ giả, tướng chúng sinh. Vì nếu ngay đó mà có ta biết, ta có thật đang niệm, thì cảm xúc thọ cảm, mừng vui lần lần khoái lạc an lành lại nổi lên, tức là có tướng thọ giả. Ngay nơi đây người tu Mật chú Chuẩn Đề - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm cũng không chấp dính vào sự Thanh tịnh niệm tụng của mình. Vì khi chấp rõ có sự Thanh tịnh niệm tụng, tất chấp pháp, chấp ngã, chấp tịnh. Thì thành ra tịnh vọng, sự Thanh tịnh, tự tánh Thanh tịnh của nó không có tướng niệm. Nhưng hay diệu hữu, cái diệu hữu này là chân chú, Phật chú Chuẩn Đề. Tạm mượn gọi như vậy để chỉ Phật tánh thanh tịnh, khi đó như vậy cái Hiển và cái Mật không hai.

Tâm nào tìm chi cho xa, đâu có lìa thân này, sắc thân là giả, có sanh có diệt. Chân tâm như hư không, chẳng đoạn chẳng biến. Cho nên nói: “Hài cốt vỡ tan rồi trở về với lửa gió, một vật trường linh che trùm trời đất”

Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.




Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:16:14(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
Linh Chi?u  
#24 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
Guest

Danh hiệu: Guest

Nhóm: Guests
Gia nhập: 21-05-2014(UTC)
Bài viết: 0

Được cảm ơn: 83 lần trong 63 bài viết
"Năm xưa nghèo chưa thật nghèo
Năm nay nghèo mới thật nghèo
Năm xưa nghèo còn có dùi cắm đất
Năm này nghèo dùi cũng không"

Câu thơ nghe thật bình thường, nhưng nó đã thể hiện lên sự vi diệu của đạo pháp, nó bàng bạc, tầm thường ngay trong cuộc sống hàng ngày. "Tri huyễn tức ly huyễn". Theo con mắt thế gian thì cuộc sống thật nghèo, không có tiền bạc danh lợi, đến cái dùi cắm đất cũng không. Nhưng theo con mắt nhà Phật đó mới đúng là phước báu. Không có sự ràng buộc, không có sự ngăn ngại của 6 căn, 6 trần, 6 thức. Đó là sự ly hoàn toàn, mà vẫn hằng tỉnh giác và thường biết.

Cuộc sống có nghèo, nhưng đạo đâu có nghèo. Cảm niệm ơn Thầy rất nhiều!
ThanhHung  
#25 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1703 lần trong 345 bài viết

PHẨM 22





Chánh Văn


Nhập Thâm Sơn, Trú Lan Nhã,
Sầm Ngâm U Thúy Trường Trùng Hạ.
Ưu Du Tĩnh Tọa Dã Tăng Gia,
Khuých Tịch An Cư Thực Tiên Sái?


Dịch Nghĩa

Vào Non Sâu, Ở Lan Nhã,
Núi Dựng Tùng Già Sân Vắng Tỏa.
Thong Dong Ngồi Lặng Lễ Tăng Quê,
Vắng Lặng Yên Lành Thanh Thoát Quá.


Trong đoạn kinh văn này, đức Huyền Giác nói lên sự sống thanh nhàn, an lạc của một tu sĩ ở trong thâm sơn vui thú của sự Thanh tịnh an lạc. Sống ở Lan Nhã tất là sự sống thanh tịnh ( A Lan Nhã dịch là thanh tịnh, thanh vắng).

Thong Dong Ngồi Lặng Lẽ Tăng Quê

Hình ảnh này nói lên một người hành giả đã lặng lòng, tâm không còn dấy động xôn xao, luôn lúc nào cũng tỉnh giác mà sống. Được như vậy mới ở yên trong sự thanh tịnh, thanh vắng được. Còn người tâm còn xôn xao loạn động, vạn niệm lăng xăng, tác động cho nhau, duyên hợp lẫn nhau. Thì dù có ở trong thâm sơn cùng cốc, thì cái vọng nghiệp, vọng trần kia nó cũng lôi ta ra.

Ở câu văn này, Ngài nói rằng người đã nhận thấy các pháp đều vô thường duyên hợp thật chứng ngộ lý trên, thì vào nơi thanh vắng đó tự do tự tại làm kẻ tăng quê, nuôi dưỡng thánh trí, tới lui núi dựng rừng sâu. Núi ngay đó nó cũng nói lên cái tĩnh lặng, suối kia reo, vượn hú, hoa nở luôn diễn đạt cái biết an lạc hằng có. Hoa kia, suối reo nói rằng: Tôi đang ở đây. Núi kia cũng vậy, tất cả đều sống dậy, một sức sống thanh tịnh hằng có. Người hành giả giỡn với gió, vờn với mây, tâm nhẹ nhàng thanh thoát không còn vướng bận trong cái động, cái tịnh, cái tu chứng gì cả. Ngay đây có thể nhảy múa, ca lên khúc ca - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Đúng như vậy đó, vào nơi Lan Nhã đó, tất cả đều xướng lên, hợp xướng lên – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.

Người hành giả (tăng quê) kia ngồi trên mỏm đá, tâm thức họ, vạn niệm đều hòa hợp, nơi nơi không ngăn ngại đều niệm Mật chú. Họ nhìn một đóa hoa như đang nở, đang đón chào – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Đúng vậy, ngay đây sức sống (phóng quang) của vạn vật đó luôn thể hiện – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Con suối kia rí rắc reo vi vu hàng đêm, hàng ngày cũng nghe nơi ấy Mật chú Chuẩn Đề. Người tĩnh tâm tu Mật chú vào nơi ấy tĩnh lặng quán âm Mật chú, cho đến lúc tất cả hoa nở, sương rơi, lá bay, gió reo đều vang lên – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Như vậy đã có cái thai trí, cái biết hằng có Mật chú Chuẩn Đề, thì ngay nơi đây xuống núi vào chợ đời lăn lóc, nhấp nhô trong sóng trần mà tâm ấy vẫn – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Một động tác tay, một tiếng nói, một giọng cười tất cả đều là – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Chỉ cần một động thái nhỏ thôi, thần chú Chuẩn Đề sẽ vang lên âm vang ấy cộng với năng lực mật chú Chuẩn Đề, lòng thanh tịnh của người hành giả thì tật bệnh tai ương sẽ được hóa hóa giải nhẹ nhàng. Người hành giả sẽ làm được nhiều lợi ích cho chúng sinh qua những ý niệm những động dụng tay chân, qua sự quán soi của người hành giả đều đem lợi ích đến cho muôn nhà muôn vật. Mỗi lần mỗi động chuyển như vậy cũng như những dấu chân thiền của người hành giả qua đi rồi mất nhẹ nhàng thanh thản.

Đạo thiền gió thoảng mây bay
Xuân thu vạn dặm dấu giầy nào in.


Như vậy nếu người hành giả tu Mật chú thấy biết được tự tánh thanh tịnh của mình thì nơi rừng sâu núi thẳm, cũng như giữa chợ đời. Giữa chợ đời nó có những nghịch cảnh, cũng có tiếng âm vang lên, cũng có gió reo, nước chảy chim kêu, ngay nơi cảnh để người hành giả chỉ biết vậy thôi. Không cần phải đắn đo phân biệt gì cả nếu tâm loạn động phân biệt gió này do bão, chim này hót là chim tốt xấu...phân biệt một chuỗi như vậy thì chấp vào nơi tâm loạn động – Loạn động sẽ sanh đến vọng tưởng sanh tử luân hồi, chỉ biết tiếng chim gió thổi đấy thổi rồi hát lên bài ca vô tận - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm .Như vậy thì tăng quê cũng có mặt nơi thành thị, tới lui cũng thanh nhàn, cực lạc chính là cõi ta bà.

Vắng Lặng Yên Lành Thanh Thoát Quá.


Sự thanh tịnh an lành có mặt ở mọi nơi, chính ngay nơi mình có nhận biết được sự an tịnh, an lạc hay không thôi.

Đoán rằng không hữu chẳng khác nhau
Sanh tử vốn từ mạch sóng xao
Trăng sáng tối qua nay trăng sáng
Hoa cười năm mới năm cũ hoa
Ba đời nhanh chóng gió đùa đuốc
Chín cõi xoay vần kiến bò quanh
Hoặc hỏi thế nào là cứu cánh
Ma ha Bát nhã Tát Bà Ha.


Tuệ trung thượng sĩ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp Hiệu Chánh Trí


Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:17:59(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#26 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1703 lần trong 345 bài viết

PHẨM 23



Chánh văn:

Giác tất liễu, bất thi công,
Nhất thiết hữu vi pháp bất đồng.
Trụ tướng bố thí sinh thiên phước,
Do như ngưỡng tiễn xạ hư không.

Dịch:

Giác là xong, chẳng ra công,
Mọi pháp hữu vi thảy chẳng đồng.
Bố thí trụ tướng phước trời ứng,
Khác gì tên nhắm bắn hư không.


Đây nói giác tất là xong chẳng ra công. Một câu nói rất tầm thường, nhưng nó hàm chứa tất cả giáo nghĩa tối thượng thừa của Phật đạo. Đạo giải thoát nó nằm nơi đấy.

Khi người tu trở về với bản tâm Thanh tịnh của mình, thì quán soi tất cả vạn pháp đều không thật tướng, do sự duyên hợp mà hình thành cả. Ngay đây họ luôn tỉnh giác.

Ngày xưa, sau khi sư Huyền Giác tham vấn hỏi đạo với đức Lục Tổ Huệ Năng, ngài xin cáo từ ra về. Tổ bảo:

- Sao trở về quá nhanh?
Sư thưa:
- Vốn tự không động thì đâu có nhanh.
Tổ bảo:
- Cái gì biết không động?
Sư thưa:
- Ngài tự phân biệt.
Tổ bảo:
- Người được ý vô sanh rất sâu.
Sư thưa:
- Vô sanh há có ý sao?
Tổ bảo:
- Không ý cái gì biết phân biệt?
Sư thưa:
- Phân biệt cũng không phải ý.
Như vậy trong cái vô sanh đó, không phải là không phân biệt. Nhưng phân biệt mà không có ý. Tất là sự “tư lương biết” hằng có, gọi là “ diệu tư lương”. Ngay nơi đây tùy duyên mà trực nhận một cách nhanh chóng.

Ngay nơi đây người tu theo Mật pháp Chuẩn Đề cũng vậy. Ngay nơi duyên đó, mà biết trực nhận, mà cái biết trực nhận đó hàng ngày do sự huân tập hành trì niệm của người hành giả. Tất cả các duyên tới, họ đều nghe biết Mật chú – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Nhưng ngay chỗ đó, cái nghe đó nó cũng không dính theo cái cảm thọ, và không nhất định nghe ở đâu, nơi nào. Chỉ trong tích tắc sát na, thần chú đó vang lên – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, và cái hình tướng âm thanh đó được thể hiện ở cái biết của tướng nghe. Khi đã thuần thục ở tướng nghe, biết thần chú đó rồi, thì ở mọi nơi, mọi vật đều có Mật chú nơi đó. Do đó người hành giả dùng pháp ấy để cúng “Kính Điền”, dâng lễ vật cúng dường chư Phật, Bồ tát. Thì tất là dâng tâm chú - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Sự vật đó là tâm chú, thì tâm chú là Phật tánh hằng có, thì sự cúng dường ấy tất là sự “cung dưỡng” thành kính, chân thật của tâm mình. Trưởng dưỡng cái Phật tánh đó, thì ngay đó mới đúng là sự cúng dường mười phương chư Phật, mười phương chư Bồ tát, Thanh văn Duyên giác. Một sự cúng dường vô ngã, vô sinh xứng với pháp.

Và ngay nơi đó đem lễ vật, vật thực đó mà bố thí cúng “Bi Điền” cho tất cả Ngạ quỉ, Súc sanh nơi địa ngục u tối đó. Thì có lợi ích rất nhiều đối với chúng sinh Ngạ quỉ. Vì chúng sanh Ngạ quỉ ấy đều trong tâm ta cả. Khi quay lại với tâm thanh tịnh vô ngã, thì ngay nơi đó tất cả vật thực đều cũng là tâm thanh tịnh của tâm chú Chuẩn Đề, và cũng ngay nơi đó tâm chú đó sẽ thể hiện ấn lên tâm Súc sinh, Ngạ quỉ kia. Thì tất cả đều đồng- quy- tâm Phật ấn tâm chúng sinh Địa ngục, thì Địa ngục và Niết bàn đều bình đẳng. Con đường giải thoát sẽ khai mở.

Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Bố thí như vậy, tất vô ngã không trụ nơi tướng mà bố thí.

Kinh Kim Cang nói: Nếu Bồ tát đem bảy báu, đầy cả tam thiên đại thiên thế giới, nhiều như số cát sông Hằng, dùng để bố thí. Sánh với Bồ tát biết tất cả pháp vô ngã, được thành tựu sức nhẫn. Thì công đức của Bồ tát này hơn phước đức của Bồ tát thí bảy báu. Tại sao? Này Tu Bồ Đề, do các Bồ tát chẳng thọ phước đức?”
Tu Bồ Đề bạch Phật: “ Bạch Thế Tôn! Thế nào là Bồ tát chẳng thọ phước đức?”.
Phật bảo: “Này Tu Bồ Đề. Bồ tát làm phước đức chẳng nên tham trước, vì vậy nói là chẳng thọ phước đức”.

Ở đây ngài Huyền Giác cũng nói:

Bố thí trụ tướng phước trời ứng,
Khác gì tên nhắm bắn hư không.


Bố thí mà thấy cái ta, ta cho, người thọ nhận. Thấy tất cả các pháp đều thật có, chấp vào đó mà bố thí thì chuyện bố thí đó sẽ hưởng được phước báu cõi trời người. Như người ngửa mặt lên nhắm hư không mà bắn tên, tên bay đến một lúc cũng trở lại. Người dùng tướng ngã, pháp mà bố thí cũng như vậy. Một ngày nào hết phước, cũng sẽ trở lại tiếp tục luân hồi sinh tử.
- “ Như khi gặp cảnh yêu ghét, lúc ấy khởi tâm yêu ghét và khiến thủ cảnh yêu ghét ấy. Nếu tâm chẳng khởi là tâm vô ngại”

Thời tiết xoay vần xuân lại thu.
Xăm xăm tuổi trẻ đã bạc đầu
Giàu sang, nhìn lại một trường mộng
Năm tháng ôm suông muôn hộc sầu.
Nẻo khổ luân hồi xe chuyển bánh
Sông yên chìm nổi tựa bọt chum
Gặp trường chẳng chịu sở lên mũi
Muôn kiếp duyên lành chỉ thế thôi.


Tuệ Trung Thượng Sĩ.


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:20:25(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#27 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1703 lần trong 345 bài viết

PHẨM 24


Chánh văn:

Thế lực tận, tiễn hoàn trung
Chiêu đắc lai sinh bất như ý.
Tranh tự vô vi thực tướng môn,
Nhất siêu trực nhập Như lai địa.

Dịch:

Đà bắn hết, tên rơi lại,
Đời sau vướng lại chẳng như ý.
Đâu giống cửa thực tướng vô vi,
Vào đất Như lại trong một nhảy.


Ở phẩm này sư Huyền Giác nhắc lại ở việc bố thí. Người bố thí mà còn tướng nhân, tướng chúng sinh, tướng thọ giả. Còn chấp vào pháp, thì chỉ được ở phước báu nhân, thiên mà thôi.

Đà bắn hết, tên rơi lại,
Đời sau vướng lại chẳng như ý.


Dù cho có phước báu cao tột, được sống lâu bao trăm tuổi, giàu sang phú quý. Hay được sanh lên cõi trời đi nữa, thì cũng phải quay lại khi hết phước báu. Chuyện kể nhiều vị Tiên, Thiên sau khi hết phước báu, vẫn bị đọa lạc vào đường chúng sanh. Ông Uất Đầu Lam Phất ở thời đức Phật tu thiền định, đắc Phi phi tưởng Định, sanh lên cõi trời Phi phi tưởng Thiên sống đến hàng triệu triệu tuổi. Theo lời đức Phật thọ ký, sau khi sức Định hết, tuổi thọ giảm dần, cuối cùng sẽ đọa làm con chồn bay. Ngay câu chuyện này, giúp chúng ta nhớ nghĩ đến chuyện luân hồi sanh tử vô bờ bến. Nếu chúng ta cứ dùng mãi những công phu hữu vi, thì kết quả nó sẽ hữu hoại. Và ngay làm kiếp người tu học được cũng rất khó. Chúng ta hãy tĩnh tâm mà nhận lấy pháp vô vi giải thoát, trở về với tự tánh thanh tịnh của mình. Xem quán soi cho thật rõ vạn pháp đều giả hợp, duyên hợp huyễn có. Cúng không có chỗ tịnh và không tịnh. Ngay chỗ bản tánh đó, nhận ngay cái hằng có, cái biết vi diệu. Nhưng ngay cái biết đó, cũng đừng thêm bớt gì cả.

Ngài Triệu Châu hỏi tổ Nam Tuyền:
- Thế nào là đạo?.
Tổ Nam Tuyền nói:
- Bình thường tâm, đó là đạo.
Ngài Triệu Châu hỏi:
- Lại có thể noi theo chẳng?
Tổ Tuyền nói:
- Định hướng về là đã sai!
Hỏi : “Không suy nghĩ được, thì sao biết đó là đạo?”
Đáp: “Đạo chẳng phải biết, chẳng phải không biết, biết chẳng có sự nghi ngờ. Thì tròn khắp như thái hư rỗng nhiên trống trải. Sao còn chuyện phải trái ư?”.

Lấy cái tâm vô phân biệt, vô ngã như vậy mà bố thí. Tất cả đều là công đức, là sự sống, là đạo. Mọi vật đều bình đẳng, có phước báu nhưng không chấp dính vào phước báu, vì ngay đó không có sinh, vô sinh, vô ngã, không tạo tác. Bố thí như vậy, mới thật là bố thí Ba la mật. Bởi vì, mọi vật nơi nơi cũng là tự tánh thanh tịnh. Đã là tự tánh thanh tịnh, thì mọi vật đều bình đẳng không hơn, không kém. Ở đâu cũng là mình, người cũng mình. Như vậy là thường, mà mọi vật đều bình đẳng, tức an lạc. Nhưng trong cái an lạc đó nó có cái thông suốt không bờ mé, đó là ngã. Khi mọi vật đều bình đẳng, vật là tánh – tánh là vật thì thanh tịnh đủ bốn tướng của Niết bàn. Thường, lạc, ngã, tịnh cái bố thí đó không bố thí, nhưng là bố thí. Vì mọi vật đều viên dung đầy đủ, không thiếu, không dư. Cho nên là nghĩa bố thí Ba la mật, bố thí rộng lớn viên dung. Trong pháp tu mật chú Chuẩn Đề, lấy cái tâm đó mà thể hiện - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm để cho, để bố thí vạn pháp, vạn vật. Khi tất cả tròn đầy ở mỗi giác niệm đều có - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm tràn đầy vạn pháp trong tâm. Đã có cả thảy sự vật thì tất cả đều là Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Nó sẽ tròn khắp ở mọi nơi, không ngăn ngại. Như vậy, sự bố thí như vậy rất rộng lớn, tất bố thí Ba la mật. Khi vạn niệm đến tâm ta, ta thấy, ta cho niệm giác đó - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Mà cho như vậy, tất là ngay đó ta và vạn niệm đều nhận được - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Cho và nhận đều là bình đẳng. Đã bình đẳng thì không có người cho, không người nhận, bố thí nhưng cũng không bố thí - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.

Đâu giống cửa thực tướng vô vi,
Vào đất Như lai trong một nhảy

Ngài Huyền Giác khuyên chúng ta, ngay nơi đây nên trở về tự tánh thanh tịnh, đừng uổng công tìm cầu nơi bên ngoài, để uổng phí một đời tu.

Tâm địa không trái (phi) : Tự tánh giới
Tâm địa không si: Tự tánh huệ
Tâm địa không loạn: Tự tánh định
Chẳng tăng chẳng giảm: Tự tánh Kim cang
Thân đến thân đi: Hằng tam muội

Lục Tổ Huệ Năng







PHẨM 25


Chánh văn:

Đản Đắc Bổn, Mạc Sầu Mạt
Như Tịnh Lưu Ly Hàm Bảo Nguyệt
Ký Nặng Giải Thử Như Ý Châu
Tư Lợi Lợi Tha Chung Bất Kiệt

Dịch

Chỉ Được Gốc Lo Chi Ngọn
Như Ngọc Lưu Ly Ngâm Trăng Sáng
Đã Hay Hiểu Được Như Ý Châu
Lợi Mình Lợi Người Không Cùng Tận


Ở bài này ngài Huyền Giác bảo rằng, chỉ cần được ngay gốc mà tu thì ngọn sẽ đến. Mà gốc cái sự tu là cái gì? Tất cả vạn pháp trong tâm chúng ta, nó đều lăng xăng theo vọng tưởng. Nếu ta không tĩnh tâm, sẽ bị nó cuốn lôi vào vòng sanh tử. Để tâm kia lặng chỉ có một con đường la quay về với tự tâm thanh tịnh. Mà quay về với tự tâm thanh tịnh? Bằng cách nào để quán soi quay lại? Chỉ lấy pháp vô tâm để trị vọng tâm. Đơn giản trong pháp tu tâm, chỉ có lấy vô tâm một pháp một là đủ. Vô tâm hay vô phân biệt, vô niệm chỉ là một. Nói vô tâm là để mượn văn tự mà chỉ bày, chứ thật ra vô tâm chẳng phải thể của nó vô tâm. Trong vô tâm đó có cái thông suốt, thể của nó tròn đầy viên giác. Vì trên bình diện tất cả vạn pháp, bất cứ nơi đâu cũng đều có cái thông biết đó cả. Tạm mượn cái thông biết đó để nói lên ở bất cứ nơi nào trong vạn sự, vạn niệm, vạn pháp, bao giờ cũng có cái diệu hữu, hằng biết đó. Nếu không có cái đó, thì đi cũng không biết, nói cũng không hay. Tất cả sự chuyển động, động dụng cùng không động dụng cũng đều có cái đó. Người hành giả tu chân tâm là luôn luôn thể hiện cái biết hằng có đó là cái thân của họ. Gọi là Pháp thân, cái Pháp thân đó nó có cùng khắp mọi nơi, nó luôn thể hiện cái thông suốt biết thanh tịnh. Cho nên cũng gọi là Báo thân, Hóa thân. Ở mọi vạn sự, vạn vật đều có cái biết hằng hữu đó. Nên gọi là Đại viên cảnh trí, mà biết rất rõ ràng chân thật, không phân biệt loạn động, gọi là Diệu quan sát trí. Khi con người quay về quán soi tu tự tánh thanh tịnh đó rất lợi ích cho chúng sanh. Cho nên ngài Huyền Giác nói rằng:

Như ngọc lưu ly ngậm trăng sáng
Đã hay hiểu được như ý châu
Lợi mình lợi người không cùng tận.


Cái tâm thanh tịnh cũng như ngọc ma ni. Sáng trong suốt, ngậm trăng sáng ngầm nói trong cũng như trăng sáng, vì ngậm trăng trong lòng thì nó sáng trong suốt. Ngoài thì ngọc ma ni chiếu soi, người tu trở về với tự tánh thanh tịnh, nó diệu dụng sáng chói như ngọc và trăng kia. Ánh sáng sẽ đem đến mọi vật sự sáng suốt như trí huệ, tâm sáng của người hành giả đó. Ở mỗi nơi, mỗi chỗ mọi động tác cũng đều là đạo cả. Phật ấy trong tâm ta chứ không ngoài tâm mà cầu.

Đêm đêm ôm Phật ngủ
Sáng sáng lại cùng dậy
Đi đứng trọn theo nhau
Nói nín cùng yên ở
Muốn rõ chỗ Phật ư
Chỉ lời, tiếng là đó!


Ngay nơi đây từ Tổ Đạt Ma đến Lục Tổ sáu cánh đã bày. Thì ngay đây ngàn hoa đua nở, phân tông khai phái đủ muôn pháp. Thế nên có nháy mắt, nhướng mày, động tay động chân, la hét, vung gậy đánh đập, dựng phất đánh trống, nín, nói, rồi đào đất cuốc đất…Tất cả cũng chỉ đến đạo tự tánh. Vì tông này, ngay nơi tự tâm đó từ đức Đạt Ma đến Lục Tổ tất cả giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự. Cho nên những hành động, những sự kiện trên, chư Tổ đã dùng thủ thuật khéo léo của tự tâm để chỉ bày đạo giải thoát. Đức Lâm Tế, đức Huỳnh Bá hai Ngài la hét, vung gậy đánh để chỉ bày diệu nghĩa. Chư Tổ ít dùng văn tự để chỉ bày. Quí Ngài chỉ ngay nơi đó để chỉ ngay nơi đó, thể hiện tự tánh thanh tịnh vượt ngoài ngữ ngôn văn nghĩa. Vì văn tự khó diễn đạt được chỗ ấy.
Qua những chi tiết trên, thì người hành giả Mật chú Chuẩn Đề cũng thể hiện tu Hiển giáo tự tánh thanh tịnh kia. Nhưng ở đây dùng – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm để trưởng dưỡng cái biết diệu hữu kia. Khi nội thức nổi lên trong những vạn niệm, người hành giả Mật chú Chuẩn Đề ngay chỗ đó tỉnh giác thấy biết rõ. Cái thấy biết rõ đó càng lúc nó càng khéo léo trong hành trì hành pháp, và đến một lúc Thần chú Chuẩn Đề- Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm không còn âm đó nữa, mà nó đi vào âm vi tế, âm nhỏ nhiệm chỉ có một đốm sáng ly ti, một cảm giác thoáng qua. Một vi trần ánh sáng trong tâm, thì nó cũng nói lên đủ - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Khi nó đã thể hiện như vậy thì ngay chỗ đó tướng ta của người hành giả cũng không còn, và ngay nơi tâm thức đó chân niệm kia cũng không dính vào bất cứ một pháp nào cả, người hành giả an nhàn mỉm cười để thể hiện ra Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, người hành giả không có chỗ trụ. Để ngay chỗ đó muôn niệm Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm vang lên.
Như vậy cũng như viên ngọc ma ni phát sáng kia ngậm trăng sáng, nhưng giác chân niệm đó sẽ hằng có trong vạn sự, vạn vật. Tất là có trong tâm thanh tịnh của người hành giả. Mà đã có trong tâm người hành giả, thì người hành giả kia quảy gói tới lui tự do, tự tại làm lợi ích cho muôn loài. Vì tất cả động dụng; nói nín, quơ tay chân, đi đứng, đào đất, đánh trống thổi kèn cũng đều là Phật tâm chú - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Ngay nơi đó cũng không phải là - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, nhưng cũng không khác với Thần chú kia, vạn sự, vạn vật cũng vậy. Ngay đây vạn vật, vạn pháp cũng đồng nói lên ngôn ngữ đại đồng - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm

Một miệng nuốt luôn Phật, chúng sinh
Mảy may chẳng lập mới rành rành
Đầu cây (gậy) khêu dậy vầng nhật nguyệt
Khua động tam thiên núi biển mờ



Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:23:35(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#28 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1703 lần trong 345 bài viết
PHẨM 26


Chánh văn:

Giang Nguyệt Chiếu, Tùng Phong Xuy
Vĩnh Dạ Thanh Tiêu Hà Sở Vi
Phật Tánh Giới Châu Tâm Địa Ấn
Vụ Lộ Vân Hà Thể Thượng Y


Dịch:

Trăng Rọi Sông, Gió Lay Tùng
Đêm Trường Thanh Vắng Có Chi Làm
Phật Tánh Giới Châu Tâm In Rõ
Mây Ráng Sương Mù Áo Khoắc Thân
.


Khi một người tu hành trở về với tự tâm thanh tịnh của mình rồi, thì tất cả những sự việc nó đều bình đẳng. Ở đâu, ở mọi nơi mọi pháp đều in rõ “ phật tánh giới châu tâm in rõ”. Và khi tất cả vạn pháp in rõ như vậy, tức là ngay nơi ấy, ngay nơi tất cả sự vật đều thể hiện lên cái sáng biết như châu. Đã sáng biết như châu, thì không có một vật gì nhiễm cả, luôn cả sự tịnh và động cũng không dính mắc vào.

Chẳng Thấy Một Pháp Còn Thấy Không,
Giống Như Mây Nổi Che Mặt Nhật.
Chẳng Biết Một Pháp Giữ Biết Không,
Lại Như Hư Không Sanh Điện Chớp,
Tri Kiến Này Bỗng Nhiên Dấy Lên
Lầm Nhận Đâu Từng Hiểu Phương Tiện,
Ông Phải Một Niệm Tự Biết Lỗi
Tự Kỷ Linh Quang Thường Hiển Hiện.


Ngay bài thơ này của đức Lục Tổ Huệ Năng nói lên cái chân tánh của mình. Nếu ngay nơi chỗ chúng ta tu chẳng thấy một pháp nào nơi đấy, nhưng ngay nơi đó ta chấp lấy cái không thì cũng giống như đám mây trên trời che mặt trời lại. Chẳng biết một pháp. Ngay chỗ mình tu tâm cứ nghĩ rằng không chấp giữ một pháp nào cả, nhưng khi chúng ta dấy niệm như vậy là ta đã chấp giữ cái không rồi. Cho nên trong pháp tu Trí huệ Bát nhã trở về với cái biết thanh tịnh hằng có của mình, là một quá trình quán soi, tu học thật kỹ. Rồi ngay chỗ đó đem những cái biết đó quăng vào thùng rác đi. Ngay chỗ đó đức Lục Tổ bảo rằng : “Ông phải một niệm tự biết lỗi. Ngay chỗ thời gian, tích tắc, sát na đó, mình hãy tự biết lỗi thì nó mới: Tự Kỷ Linh Quang Thường Hiển Hiện”.

Để thấy sự mầu nhiệm của phương pháp tu Trí Bát nhã của đức Lục Tổ. Xin trích lời nói của Ngài: “Ông nên xem nơi bản tâm của mình, chớ có chấp pháp tướng bên ngoài. Pháp không có bốn thừa, tâm người tự có sai biệt. Thấy nghe đọc tụng ấy là Tiểu thừa. Ngộ pháp hiểu nghĩa ấy là Trung thừa. Y pháp tu hành ấy là Đại thừa. Muôn pháp đầy đủ tất cả không nhiễm, lìa các pháp tướng một cũng không được, gọi là tối Thường thừa. Thừa là nghĩa hành không phải ở miệng rành. Ông phải tự tu chớ có hỏi tôi. Trong tất cả thời tự tánh, tự như”. Như vậy qua lời của đức Lục Tổ ta thấy nơi ấy hoàn toàn không dung một pháp nào để tác động nó cả. Tự tánh thanh tịnh tự nó như, quan sát thấy tất cả pháp duyên hợp hư huyễn không dính, không theo. Thấy tự tánh tự như không chấp vào cái tịnh. Nếu chấp vào cái tịnh đó thành ra chấp vào cái tịnh vọng. Vì tịnh nó đã hằng có sẵn rồi, không phải nhờ vào một phương pháp nào để tác động trở thành tịnh cả.

Như vậy tất cả vạn niệm, vạn pháp đều có sẵn cái biết thanh tịnh như vậy. Cho nên tranh nước, hoa nở, suối reo. Tất cả mọi cái đều thể hiện lên đạo màu thanh tịnh đó. Nếu không có cái biết hằng thanh tịnh đó, thì mọi vật đến mọi hành động của ta đều không biết cả. Có nó mới thông suốt, nó đều phát xuất từ trong tâm thanh tịnh của mình cả. Khi cử động mỉm cười, nhướng mày, nheo mắt ta đều thông hiểu cả. Cái thông hiểu đó nó có trên vạn pháp bình đẳng như như bất động. Vì nó không phân biệt, không chấp dính vào vật nào cả.

Mây Ráng Sương Mù Áo Khoác Thân.

Đâu đâu cũng sáng thông biết cả, thì cái thân tâm này trải rộng trên khắp vạn vật, vạn pháp, thì áo là sương là mây. Tất cả đều là đạo. Người hành giả tu theo mật chú Chuẩn Đề phải biết thể hiện tu tâm của mình như thế, lấy – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm để trưởng dưỡng tâm thanh tịnh. Lấy mật chú Chuẩn Đề kia làm Phật sự, vì khi thể hiện tâm ấy là – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, tất cả chúng sinh trong tâm ta; hờn giận, yêu ghét, thương buồn, thiện ác đều mang in rõ – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, thì vô lượng chúng sinh kia sẽ được hóa độ. Hàng ngày chúng ta hóa độ vô lượng chúng sinh kia trong tâm mình, thì cũng tất hóa độ chúng sinh ở ngoài xã hội. Khi người ta đem cái giận hờn đến, người ta làm hại khổ mình, người ta tạo tác làm vui mình. Những cái thọ cảm đó nó đến như vậy, nhưng ngay đây ta đều chỉ biết chúng là – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Dù cho có vô lượng chúng sinh như vậy đi nữa, nhưng vẫn nói chúng một mật ngữ - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, làm động tác, động chuyển cũng vang lên – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.
Như vậy nó đến nó lui, nó cũng đều bình đẳng như một. Chỉ có một cái biết hằng có mật chú Chuẩn Đề, mà ngay đây mật chú cũng đồng với tánh không. Vì nó không có một nghĩa gì cả, và cái biết đó cũng không ở nơi chốn nhất định nào cả. Nên không có ngã và ngã sở. Như thị - Như lai – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.

Pháp Gốc Pháp Không Pháp.
Pháp Không Pháp Cũng Pháp.
Nay Khi Trao Không Pháp.
Mỗi Pháp Đâu Từng Pháp.


Tổ Ca Diếp.






PHẨM 27




Chánh văn:

Hàng Long Bát, Giải Hổ Tích
Lưỡng Cô Kim Hoàn Minh Lịch Lịch
Bất Thị Tiêu Hình Hư Sự Trì
Như Lai Bảo Trượng Thân Tung Tích


Dịch nghĩa:

Bát Hàng Rồng, Gậy Giải Cọp
Hai Dãy Khoen Vàng Khua Lảnh Lót
Nào Phải Nêu Bày Giữ Việc Suông
Gậy Báo Như Lai Đầy Dấu Tích


Trong bài này ngài huyền giác nói lên cái tâm lực của một vị tu hành trở về với tâm thanh tịnh của mình, khi trở về với tâm thanh tịnh của mình thì mọi vật là mình, mình là tất cả, thì ngay nơi đó sự diệu dụng sẽ thể hiện lên khi người hành giả làm phật sự như:

Bát Hàng Rồng Gậy Giải Cọp
Hai Dãy Khoen Vàng Khua Lảnh Lót


Ngày xưa đức Lục Tổ Huệ Năng dùng cái bát của mình mà hàng phục rồng dữ. Ngay nơi chùa Ngài có một cái đầm lớn. Rồng ấy thường hay hiện lên làm cho mưa giông dữ dội đồ chúng rất sợ. Đức Lục tổ một hôm đến bờ đầm đó mà nói rằng: “ Ngươi chỉ giỏi hiện hình lớn, mà chẳng giỏi hiện thân nhỏ. Nếu là rồng thần thì phải giỏi biến hóa nhỏ lớn đều hiện được”. Rồng nghe người nói vậy liền lặn mất, giây lâu hiện thành thân nhỏ như con rắn, nhảy lên mặt đầm. Đức Lục Tổ bảo rằng: “ Người dám vào trong bát của lão tăng không?”. Rồng bơi tới Đức Lục Tổ lấy bát hứng nó vào bát đậy lại. Sau đó ngài cầm bát về chùa nói pháp khai thị cho nó nghe – Sau đó rồng lột xác để lại bộ xương. Đó là câu chuyện bát hàng rồng.

Còn tích nói về tích gậy giải cọp tức là dùng cây tích trượng ( gậy ) của mình hàng ngày để cản ngăn cọp đấu nhau. Ngày xưa có ông Tăng Trù, một hôm nghe cọp gầm với nhau dữ dội sư đi đến nơi thì thấy hai con cọp đang đấu với nhau, sư bèn dùng cây tích trượng đó để vào giữa để ngăn cọp không đấu nữa, thì ngay đó nhờ thần lực tâm lực của ngài, chơn chú hay phật chú trong tâm tánh ngài thể hiện ra mà hai con vật kia quá sợ bỏ chạy đi. Qua hai câu chuyện trên cho nên sau này có câu chuyện và văn thơ kể trên.

Ở hai câu chuyện trên chúng ta sẽ nhìn thấy ngay trong tâm của mình nó có một lực rất mạnh. Đức phật đã đem lực đó thể hiện ra thành diệu dụng gọi là tâm chú. Ngài đã nói ra rất nhiều diệu dụng ấy tùy theo từng căn cơ của chúng sinh, để giúp trong việc hoằng hóa phật pháp. Ngay đây người tu mật chú chuẩn đề - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm họ sẽ thấy ngay thần lực phật chú kia năng lực của nó vô biên ko thể nghĩ bàn được. Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm cũng là phật chú là tâm chú của đức Phật Mẫu Chuẩn Đề. Một thần chú nằm trong phật bộ là những chú pháp được thể hiện từ những vị Phật. Phật Mẫu Chuẩn Đề tâm chú là một tâm chú trong vô lượng chư phật đã thể hiện, cho nên gọi là Phật Mẫu. Đã từng có vô lượng vô biên chư đại Bồ tát thọ trì thần chú này đến quả vị của Phật. Cho nên công năng của tâm chú này vô lượng vô biên là vậy đó.

Người hành giả tu trì, thọ trì mật chú hàng ngày giờ thần chú ấy huân tập trong tàng thức, hóa giải và thể hiện tất cả những chủng tử trong tàng thức, thành bạch tinh thức. Từ những chúng tử lăng xăng, xôn xao trở thành trong sạch thanh tịnh, nhưng cũng ko thay đổi chủng tử bản chất của nó. Vì sao? vì người hành giả trì niệm thọ trì đến lúc ko còn người thọ trì nó nữa ko còn một pháp nào để thọ trì nữa. Ngay đây - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm vẫn thể hiện, vì tất cả chủng tử đều thể hiện lên cái hằng có biết thần chú chuẩn đề - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Những ngọn gió của mùa xuân, mùa hạ, mùa thu...reo vang lên trong từng nhành cây.Những con chim hót, tiếng dế kêu trong đêm trường, những vì sao lấp lánh, những đóa hoa nở và tàn...những cái đó nó luôn thể hiện - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Nhưng ngay đó tìm kiếm những âm thanh của chín chữ phạn đó cũng ko có nơi ấy và người trì chú đó cũng là - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Tất cả và tất cả đều là tâm chú Phật chú của Ngài, ko có hình tướng nhưng diệu dụng ở khắp mọi nơi.

Người hành giả mật chú chuẩn đề ngồi trên mỏm đá trên bờ suối, họ nghe nơi ấy tiếng suối reo là - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Mắt họ thấy những đóa hoa đang nở, sự đang nở đó nó đang niệm - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Ba Ha. Bộ Lâm. Lòng khoan khoái an lạc thọ cảm kia cũng đang vang lên mật chú Chuẩn Đề, sự gợi lên những ý niệm cũng vậy, nó cũng là mật chú. Tất cả 6 cửa đó nó đều là mật chú Chuẩn Đề, thì ngày nơi đó, bên trong ấy cũng vang lên – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.

Trúc Xinh Gió Mát Hoa Vàng
Sương Rơi, Đêm Trường Sao Sáng
Vạn Pháp Muôn Hình Muôn Vẻ
Gợi Lên Nơi Ấy
Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.

Tất cả đều diệu dụng
Hay Dãy Khoen Vàng Khua Lảnh Lót
Nào Phải Nêu Bày Giữ Việc Suông
Gậy Báu Như Lai Đây Dấu Tích.


Cư Sĩ Thanh Hùng
Pháp Hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:28:55(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#29 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1703 lần trong 345 bài viết
PHẨM 28


Chánh Văn:

Bất Cầu Chân, Bất Đoạn Vọng
Liễu Tri Nhị Pháp Không Vô Tướng.
Vô Tướng Vô Không Vô Bất Không,
Tức Thị Như Lai Chân Thực Tướng.

Dịch Nghĩa.

Chẳng Cầu Chân, Chẳng Dứt Vọng
Hai Pháp Vốn Là Không, Không Tướng.
Không Tướng, Không Không, Không Chẳng Không.
Đấy Chính Như Lai Chân Thật Tướng.


Đoạn luận này đức Huyền Giác nói lên pháp chân thực không hư dối. Mà chân thật không hư dối là sao?. Tức là khi hảnh giả thâm nhập vào tự tánh thanh tịnh ( mượn văn tự nói lên sự thâm nhập), thì ngay nơi đó tâm người hành giả không còn dính vào chân và vọng. Vì ở ngay văn tự, ý niệm đó nó là hai pháp đối với nhau. Lấy cái người ta giả hợp cho nó là thật, là chân thật rồi dùng ngay pháp ý niệm đó giả hợp, giả danh đối lập với những gì gọi là chân thật, thì cái đấy là vọng. Cho nên cái chân cũng do cái vọng mà giả sinh ra, cái vọng cũng do cái chân mà giả sinh ra thôi. Từ ngay chỗ giả sinh duyên hợp đó mà làm cho tâm ta vọng động xôn xao, chấp cái này bỏ cái kia. Khiến cho vạn pháp trùng trùng duyên khởi lên nhau không bao giờ dứt cả. Khi có người tĩnh tâm tỉnh giác quán soi các pháp là duyên hợp giả danh mà có, thì ngay chỗ đó không còn chân và vọng nữa. Nếu ta còn chấp chân tức là trong tâm ta đã có những xao động lăng tăng phân biệt để hình thành ý chân rồi, nó cũng thuộc về tâm hư dối không thật, đừng chấp dính vào nơi ấy thì tâm thanh tịnh.

Chẳng Cầu Chân, Chẳng Dứt Vọng
Hai Pháp Vốn Là Không, Không Tướng.

Hai pháp ấy do sự hư dối duyên hợp giả danh mà hình thành, nó không có thật thể của nó. Cho nên gọi là không, không tướng. Chứ thật ra, ngay chỗ đó nó có tướng giả danh của nó thể hiện.

Khi người hành giả quán soi vạn pháp, thấy sự duyên hợp giả danh của nó không thực thể rồi, thì cũng quên ngay cái biết không tướng đó. Vì ngay đó sự biết kia cũng nằm trên văn tự, sở tri kiến mang từ kinh sách, mang từ kinh nghiệm vào trong tâm ta mà phân biệt. Đó gọi là giả danh duyên hợp. Nên ta quên luôn cái biết không tướng đó, cái biết bỏ quên đi cái không đó, nó cũng hình thành nên từ sở tri chướng. Sở tri chướng là những cái biết gom góp nhiều đời, nhiều kiếp của tất cả chứng nghiệm hình thành nên, nó cũng nằm trong sự phân biệt vi tế trong tâm ta. Cũng như đứa trẻ kia, chúng không nói không làm, nhưng chúng biết những gì đến với chúng không hợp không thích và thích mà có những hành động cử chỉ khác nhau. Đó nó cũng nằm trong phần thô ta còn thấy. Nếu người hành giả sâu nghiệm hơn nữa bằng thiền định, thì sẽ thấy vi tế hơn rất nhiều.

Ngay đây để nhận biết nó, để hóa giải người hành giả nên quên luôn cái không không. Ngay nơi đó rồi tiếp theo không chẳng không, văn tự ngữ ngôn ngay nơi đấy không đủ để mô tả chỉ thật tướng được. Ngày xưa đức Khổng Phu Tử dùng 5.000 chữ để mô tả chỉ chữ “ đạo”, cũng không đủ để nói lên cái thật nghĩa của nó. Cho nên nó nằm ngoài văn tự ngữ ngôn. Ngay đây khi tới ngay chỗ quên đi cái không, rồi quên đi cái không không, không chẳng không đó ta nên dùng – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Cứ trì niệm như vậy để từng cái biết của mình nó luôn thể hiện lên từng âm thanh của mật chú. Khi niệm Úm, người hành giả biết Úm Chiết Lệ … Cho đến Bộ Lâm, từng chữ như vậy người hành giả sẽ tạo nên một cái mắt xích biết liền với nhau. Liên tục như vậy khi ngay đó không còn thời gian, không gian ta và người nữa thì âm hưởng kia nó cũng tự lặn mất đi, để cái biết chân thật đó để thể hiện lên như vậy thì ta mới ban đầu hạ thủ công phu. Nhưng về sau không còn tác ý niệm vào nữa mà do cái biết thể hiện mật chú. Ngay nới đây tâm thanh tịnh diệu dụng của cái biết thể hiện thì tâm Phật Mẫu Chuẩn Đề thể hiện. Tâm Phật thể hiện đó tức là tâm chú Phật chú.

Không Tướng, Không Không, Chẳng Không.
Đấy Chính Là Như Lai Chân Thật Tướng.


Trong bài viết này, chúng ta nên thấy ngài Huyền Giác nói bỏ đi cái chân, cái vọng ấy tức là bỏ đi không chấp cái tướng giả hợp đối lập kia. Ngay đó không chấp dính vào hai pháp chân vọng. Vì tất cả đều huyễn hợp cho nên gọi là không.

Ngay khi tu ta phải thật tỉnh giác để biết điều ấy.

Năm Uẩn Thân Huyễn Hóa
Huyễn Làm Sao Cứu Cánh
Xoay Lại Tìm Chân Như
Pháp Trở Thành Bất Tịnh


Lời đức Lục Tổ Huệ Năng viết: “ Tự tánh không lỗi, không si, không loạn, niệm niệm Bát nhã quán chiếu, thường lìa pháp tướng, tự do tự tại, dọc ngang trọn được, có gì nên lập tự tánh tự ngộ, đốn ngộ, đốn tu cũng không thứ lớp. Cho nên chẳng lập tất cả pháp, các pháp là lặng lẽ, có thứ lớp gì?”

Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.







PHẨM 29



Chánh văn:

Tâm Kính Minh, Giám Vô Ngại
Quách Nhiên Oánh Triệt Châu Sa Giới
Vạn Tương Sâm La Ảnh Hiện Trung,
Nhất Lỏa Viên Quang Phi Nội Ngoại.


Dịch nghĩa:

Gương Tâm Sáng Soi Không Ngại,
Rỗng Rang Tỏ Suốt Khắp Trần Cõi
Vạn Tướng Sum La Bóng Hiện Trong,
Một Điểm Sáng Tròn Không Nội Ngoại.


Ở ngay phẩm này ngài Huyền Giác nói lên sự chứng ngộ liễu thông tâm giới của Ngài.

Gương Tâm Sáng Soi Không Ngại
Rỗng Rang Tỏ Suốt Khắp Trần Cõi.


Khi người hành giả trở về với tự tánh thanh tịnh, thì ngay nơi đó mọi vật, vạn pháp đều bình đẳng, chỉ có cái biết viên tròn sáng như vầng nhật nguyệt soi không ngại. Tức là tất cả những sự vật vạn pháp đều có cái biết hằng có đó, nó đã có từ bao giờ chứ không phải đợi đến lúc dùng một pháp nào tác động tạo dựng nên mà có. Những cái do ta biết, ta tạo dựng lên đều do tâm hư dối giả hợp, huyễn tạo nên cả. Từ nơi huyễn hợp huyễn tạo nên thành ra các tướng đều nằm trên lý duyên hợp mà hình thành cả, không thật có thật tướng. Thật tướng của pháp không có tướng nào cả, không có từ đâu tới cũng không đi về đâu cả. Cho nên gọi như lai chân thật tướng. Ngay nơi đó nó đã có sẵn rồi, không cần phải nắm bắt, bỏ gì cả. Con người ngủ mê thật mê, nhưng sáng dậy bảo rằng: “ Đêm hôm qua tôi ngủ mê quá không biết gì cả.” Nói như vậy rất mâu thuẫn, vì nếu không có cái biết trong đó thì làm sao mình biết rằng mình ngủ mê không biết gì cả. Nhưng ở ngay đó cái biết đó nó cũng còn biết phân biệt. Trong cái vô ký mờ mờ mịt mịt đó, chính cái biết phân biệt ngu mê đó, nó mới dẫn con người đi luân hồi sinh tử. Chúng ta thấy nghiệp thức thật ghê. Bên trong cái sắc và vô sắc như trên, mà nó vẫn biết phân biệt. Cho nên người hành giả khi tu không phải bỏ cái chấp dính có và không hai bên đâu, mà cũng đừng chấp cái vô ký đó nữa. Khi người hành giả miên mật tu niệm mật chú Chuẩn Đề - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, huân tập thật sâu vào tàng thức ở cõi sắc và vô sắc giới như trong mộng ấy, thì tự nhiên ngay trong từng giờ, từng phút các duyên đến nó đều thể hiện – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Nhưng ngay nơi đấy không còn hình trạng âm thanh chín chứ đó nữa, mà ngay nơi đó người hành giả được ấn chứng, ấn tâm bằng ý biết – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Câu niệm đó không tướng, không dài, không ngắn, âm thanh không lớn nhỏ, cũng không có âm thanh nơi đó. Ngay đó chỉ có ý sanh thân – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, ý sanh thân này nó có khắp trong mọi nơi, mọi lúc, không sớm không muộn, không tới , không lui tùy duyên mà ý – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Đến lui không ngăn ngại, vì ở mỗi vạn niệm đó có ý biết đó cả, nó đã trở thành pháp ngữ, phật ngôn thanh tịnh, vì tất cả pháp đều bình đẳng, và cũng đến như như – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.

Vạn Tượng Sum La Bóng Hiện Trong
Một Điểm Sáng Tròn Không Nội Ngoại

Ở pháp tu mật chú Chuẩn Đề là pháp tu Hiển Mật viên thông – Thiền và Mật song hành. Khi người hành giả đã biết vạn pháp duyên hợp, không thật thể gọi là không tướng rồi. Để thể nhập vào cái biết phủi đi những nghiệp thức phân biệt lăng xăng bao đời, thì ngay nơi đó – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm với năng lực vô biên và cũng ngay nơi đó chín chữ ấy cũng đồng với thật tánh của vạn phap, vì nó không có một ý nghĩa, một ý niệm nào cả. Nếu người hành giả dùng nó để làm hành trang độc hành tự đi, tự giác rồi giác tha, tới mức cuối cùng để bỏ tự ngã pháp, chấp thể nhập vào tự tánh thanh tịnh. Ngay nơi đây thể nhập chỉ mượn ý niệm ngôn ngữ mà nói thôi, chứ thật tế ngay nơi ấy không có một pháp nào để tác động vào nó cả, rất khó khăn. Người hành giả mật chú Chuẩn Đề mượn chiết thiền hữu hình – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm trì niệm cho đến lúc chín âm, chín chữ đó hòa tan, hòa nhập trọng vạn sự vạn pháp, thì ngay đó tiếng chuông chiều, hạt sương buổi sớm, đóa hoa, khóm trúc, tiếng gió vi vu, sóng biển sẽ trở thành như lai tạng muôn thuở.

Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.

Trong Tâm Ba Ác Xưa Nay Tạo
Nghĩ Muốn Tu Phước Để Diệt Tội,
Đời Sau Được Phước Tội Vẫn Còn,
Chỉ Hướng Trong Tâm Trừ Tội Duyên
Mỗi Người Tự Tánh Chơn Sám Hối.
Trừ Tà Hành Chánh Tức Không Tội.
Học Đạo Thường Nơi Tự Tánh Quán
Tức Cùng Chư Phật Đồng Một Loại
Tổ Ta Chỉ Truyền Pháp Đốn Giáo
Khắp Nguyện Kiến Tánh Đồng Một Thể
Nếu Muốn Đời Sau Tìm Pháp Thân,
Lìa Các Pháp Tướng Trong Tâm Rửa Sạch.
Nỗ Lực Tự Thấy Chớ Lơ Là,
Một Niệm Chợt Dứt Một Đời Thôi.
Nếu Gặp Đại Thừa Được Thấy Tánh
Thành Tâm Cung Kính Chấp Tay Cầu.


Nhân qua bài viết này, xin mượn vài ý trong “Sám hối vô tướng” của đức Lục Tổ Huệ Năng để thể hiện lên tự tâm thanh tịnh.

Cư Sĩ Thanh Hùng
Pháp Hiệu Chánh Trí.

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:31:05(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#30 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1703 lần trong 345 bài viết
PHẨM 30


Chánh văn:

Khoát đạt không, bác nhân quả
Mãng mãng đãng đãng chiêu ương hoa.
Khí hữu trước không bệnh diệc nhiên
Hoàn nhi tị nịch nhi đầu hỏa.


Dịch nghĩa:

Toàn không trơ, dẹp nhân quả,
Mênh mang bát ngát chuốc lấy hoa.
Bỏ có, vướng không cũng bệnh thôi,
Khác gì tránh nước nhảy vào lửa.


Người tu hành mà không tự tỉnh giác quay lại để quán soi tâm hạnh của mình, đợi khi vọng tưởng dẫn mình đi mà không hay. Cứ mãi chấp trên văn tự ngã chấp, thấy trong kinh luận bảo rằng tánh không, thường do huyễn hợp mà sanh giả có. Ngay nơi ấy chấp vào nghĩa trên rồi bác bỏ nhân quả mặc tình mà tạo tội nghiệp. Tất cả các pháp duyên đến do huyễn hợp giả có, nhưng ngay đây nó có giả thành nghiệp lực. Tâm hạnh của mình chưa dứt đi trần duyên, mà bảo rằng không có pháp thiện ác, không có nhân quả. Thật như vậy quá tội lỗi

Toàn không trơ, dẹp nhân quả,
Mênh mang bát ngát chuốc lấy họa.

Thật như vậy đó, ngài Huyền Giác ngay đây đã đem những lời đó để cảnh tỉnh chúng ta. Trong sự tu tập hàng ngày của mình, tâm vẫn lăng xăng loạn động cứ chạy mãi theo tình chấp, ăn còn thấy ngon dở, thương ghét giận hờn, phiền não liên tục. Mặc dù ngay nơi tâm thức đó chúng ta cũng có phần thông lý không duyên hợp kia, nhưng đừng bao giờ bác bỏ nhân quả cả. Vì giười gieo nhân ắt có quả thôi, không tránh khỏi. Người tu lý không phải tỉnh ngay nơi đó để không lầm nhân quả. Chúng ta luôn tỉnh giác, giác ngộ được lý không trên, thì phải tiệm tu, làm những điều lành, lánh điều dữ đừng tạo nhân ác. Nếu người tu về lý không, ngay khi gặp các chướng duyên phải biết tỉnh giác quán soi tướng giả hợp của nosddeer trong từng giờ, từng phút không còn dính mắc vào thiện và ác. Nếu ta còn dính mắc vào thiện thì ngay nơi đó cũng thể hiện cái ngã chấp, pháp chấp bỏ cái này lấy cái kia làm cho tâm chúng ta xao động, thành ra chấp lấy cái thiện ấy cũng là cái ác thôi. Vì khi một điều thiện đến trong tâm ta, tức là trong căn, trần, thức nó đã có sẵn nghiệp chủng hình ảnh của sự ác rồi. Ngay nơi trong tâm sâu thẳm đó nó đã tự duyên hợp đạo diễn rồi. Nhưng chúng ta không biết vì bao đời bao kiếp ta luôn sống trong vọng nghiệp, vọng thức đó rồi. Nó đã hình thành dòng sở tri chướng, luôn luôn chảy xiết trong ngày đêm. Người tu tỉnh giác như người đứng trên cầu, phía dưới dòng nghiệp thức nước chảy xiết, mình đứng trên cầu đó chỉ nhìn biết dưới dòng nghiệp thức đó có những đóa hoa ( nghiệp thiện), có những rác (nghiệp ác). Nếu chúng ta ngay nơi đó ý định từ trong tâm mình nảy ra, phải vớt lấy đóa hoa kia, thì khi nhảy xuống vớt cánh hoa thiện đó dòng nước nghiệp lực kia nó cuốn ta đi. Ngược lại cũng vậy, vì ngay nơi vị trí đứng trên cầu đó, cũng đừng nghĩ chấp là mình đang đứng đó. Như vậy thì cái biết sẽ có trong dòng nước, có trong từng hạt nước, có trong hoa, trong rác, trong không gian và tất cả chỉ là một cái biết hằng có đó thôi. Cho nên người hành giả tu kia luôn luôn tỉnh giác là vậy. Thấy nhân quả nhưng không lầm nhân quả, có như vậy mới thỏng tay đi vào chợ đời để hóa độ chúng sinh.

Bỏ có, vướng không cũng bệnh thôi.
Khác gì tránh nước nhảy vào lửa.


Ở đây người tu Mật chú Chuẩn Đề lấy 9 chữ - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm làm hành trang đi vào tâm thức ấy. Họ nhẹ nhàng khi biết tất cả vạn pháp không tướng giả hợp trên, mặc tình sáng, trưa, chiều, tối thong dong – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Người đứng trên cầu biết – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, hoa kia, rác kia cả dòng nước nghiệp thức kia cũng đồng – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, vạn vật, vạn pháp đều đồng. Nhân: Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm - Quả: Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Từng niệm qua lại đều thể hiện Mật chú, thì cái biết cũng là Mật chú, thì không bao giờ lầm nhân quả. Ngay nơi đó họ cũng biết thật rõ thiện ác, biết nhân nào quả ấy, nhưng không lầm nhân quả.

“Nói người điên, nhưng đâu biết chính mình mới điên. Bậc xuất gia thoát tục mà còn lo nghĩ đến miếng cơm, manh áo, đi ra ngoài phải cho đẹp, ở phải cho sang, cửa phải khóa kỹ, rương phải đóng kín…, đã mất thời gian mà còn thêm chướng đạo nghiệp; vậy mà còn chất chứa đủ thứ vật dụng, cả ngày bận rộn tâm không yên, thì những người như vậy không cho là điên thì còn ai điên nữa.”
Đây là trích lời nói của pháp sư Trí Tắc. Ông có một đời sống thật đơn giản, phòng chỉ có 1 chiếc giường, rồi 1 bát, 1 muỗng, nhà không đóng cửa vì không có gì quý cả. Có người cho Ngài là người điên, nên Ngài nói nên lời kia.

Trích lời này để chúng ta tự quán soi lại coi; Ta có như vậy không? Nếu có thì nhân quả hiện hành, mình có tất cả đừng bao giờ đem lý không mà tự giả tu, giả danh vọng ngữ, thì tội chướng rất nặng.






PHẨM 31



Chánh văn:


Xả vọng tâm, thủ chân lý,
Thủ xả chi tâm thành xảo ngụy.
Học nhân bất liễu dụng tu hành,
Chân thành nhận tặc tương vi tử


Dịch nghĩa:


Bỏ vọng tâm, lấy chân lý,
Chính tâm lấy bỏ làm xảo ngụy.
Người học chẳng rõ dùng tu hành,
Chân thành nhận giặc làm con vậy.


Ngay khi hạ thủ công phu tu học, lấy chân bỏ vọng tâm cầu chân lý. Ngay nơi tâm ấy thì đã vọng rồi. Cái chân, cái vọng nó luôn luôn đối lập với nhau cả. Khi thấy cái chân tức là trong tâm ta đã có cái vọng rồi, từ cái vọng cho nên nó có cái chân, chúng cũng chỉ là giả danh duyên hợp mà thôi. Ngay nơi đâu là chân? mà ngay nơi đây là vọng?. Chỉ biết cái vọng do duyên hợp giả ngụy mà thành, thì ngay chỗ nơi đó là chân. Mà ngay nơi đó cũng không dính vào cái giả định bỏ chân vọng đó nữa. Nếu chúng ta cứ giả lập phân định mãi, thì tâm kia cũng hư dối lăng xăng loạn động không nhất định, sanh diệt điên đảo liên tục. Cứ mải bỏ, rồi cứ mải nhận thì có phải là ta nhận nơi cái tâm loạn động không? Cho nên ngài Huyền Giác bảo rằng: “ Nhận giặc làm con” lấy giặc về nhà làm con mình, thì gia sản của mình sẽ bị phá hại.

Khi tâm thức chúng ta diễn tiến như vậy, ta nên niệm - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm để nuôi dưỡng cái biết của mình sáng lên tự chủ được. Khi đã tự chủ được như vậy, thì các niệm đến lui ta đều biết ngay - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Vạn niệm đều như thế thì mọi vấn đề nó sẽ bình đẳng. Người hành giả cứ tự trong tâm của mình vang lên thần chú Chuẩn Đề mãi, khi đi, đứng, nằm, ngồi, khi làm việc tiếp chuyện với người khác tâm ấy cũng hằng niệm - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Ta không có dùng một công, một tác động nào cả, vì ngay nơi đó cái biết hằng có đó là Mật chú Chuẩn Đề rồi.
Người tu Mật chú ChuẩnĐề đến nơi đây rất hỷ lạc, nhưng cũng ngay nơi đó cũng không thấy tâm hỷ lạc đó nữa. Vì ngay tâm ấy cũng biết - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Mỗi vật mỗi niệm đều biết khi chúng tùy duyên xảy ra, nhưng cũng ngay nơi xảy ra, nơi đó Mật chú cũng thể hiện. Thật vi diệu; vi là nhỏ tế nhiệm, diệu là diệu huyền quyền biến nhẹ nhàng thông đạt trong từng niệm.

Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.

Bồ đề vốn không cây,
Gương sáng cũng chẳng đài
Xưa nay không một vật
Chỗ nào dính bụi bặm


Lục Tổ Huệ Năng.


Cư Sĩ Thanh Hùng
Pháp Hiệu Chánh Trí.

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:32:58(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
Quang Tue  
#31 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
Quang Tue

Danh hiệu: Newbie

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 0

Được cảm ơn: 2 lần trong 2 bài viết
Kẻ tăng quê ở nơi thâm sơn cùng cốc, vì đã thấy được bản tánh thanh tịnh. Nên tự tại tiêu dao, tới lui thưởng hoa, ngắm nguyệt, hát lên bài ca Chuẩn Đề. Thật thú vị ngữ ngôn Mật chú.

Cảm ơn Thầy đã viết lên bài ca Chuẩn Đề vi diệu.
ThanhHung  
#32 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1703 lần trong 345 bài viết

PHẨM 32



Chánh văn:

Tổn pháp tài, diệt công đức,
Mạc bất do tự tâm ý thức.
Thị dĩ thiền môn liễu khước tâm,
Đốn nhập vô sinh tri kiến lực.


Dịch nghĩa:

Hao pháp tài, tổn công đức,
Là bởi do tâm ý thức.
Chính thế thiền môn rõ thấu tâm,
Tri kiến vô sinh liền thể nhập.


Xưa nay Phật, Tổ Thầy đã từng chỉ cho chúng ta con đường đi giác tự tâm thanh tịnh của mình, mà có mấy ai tự quay đầu lại đâu. Chúng ta cứ mãi chạy theo vọng nghiệp, do sự vô minh tạo lập rồi tự huân tập giả định với nhau tạo thành nghiệp miên man không thoát khỏi. Cứ mãi đắm chìm chấp theo giả tướng, trong khi đó chư Phật, Tổ đã biết bao lần thể hiện lên trong mọi trường hợp mọi pháp để chỉ bày cho chúng ta. Đó là sự duyên hợp giả có, chúng không có thực thể của nó, do từ cái này hợp với cái kia giả tạo mà thành. Rồi thời gian qua nó tự hoại đi để chuyển tiếp cái duyên mới. Như vậy đó mà ta cứ chạy mãi theo những thứ đó bỏ quyên đi cái hằng có thanh tịnh của mình. Không cần phải tác pháp, không cần phải tạp lập cái gì cả, chỉ biết nhận ngay nơi đó, thấy ngay nơi đó chúng không thật có, chỉ ngay nơi đó có cái không sinh diệt. Biết như vậy, nhưng cũng không lập nên cái biết nữa, thì đó mới là thanh tịnh niết bàn - Kinh Lăng Nghiêm nói rất rõ.

Ngược lại cũng ngay nơi đấy mà ta chấp lấy cái biết phân biệt, cái này, cái kia. “ Tri kiến lập tri tức vô minh bổn”. Như vậy tức chúng ta cứ chạy đuổi theo mãi, vọng theo sự vật rồi tưởng tượng thành hình, thành ý niệm, giả tạo dựng thành sự vật, căn thân thế giới. Rồi tự huân tập trong tàng thức, thức thứ 8. Cũng ngay nơi đấy thức thứ 7 mạt na thức chấp dính từng sự vật, từng ý niệm cảm thọ mạng sẽ sanh ra nơi đó. Rồi tiếp theo một chuỗi sanh sanh diệt diệt do 6 thức kia huân tập căn thân phân biệt, thế giới, vạn vật, vạn pháp dẫy đầy trùng trung duyên khởi. Một chuỗi sinh diệt loạn động nó dẫn ta đi bằng một sức vô hình gọi là “ lực”. Nghiệp lực dẫn luân hồi sinh tử. Ngay nơi đây chúng ta không tĩnh tâm để quán soi nhìn thấy tự tánh thanh tịnh của mình, thì chỉ trong tích tắc nghiệp lực kia sẽ dẫn ta đi vạn dặm trong sinh tử luân hồi.

Hao pháp tài, hết công đức,
Đều lỗi do tâm ý thức.


Cứ mãi trôi lăng trong nghiệp thức kia vì ta đã nhận lầm “ giặc làm con”. Ngay đây rất khó, vì bao đời kiếp ta đã từng huân tập trong vọng nghiệp kia rồi. Cho đến hôm nay, mặc dù ta tu, nhưng khó có thấy được tự tánh thanh tịnh của mình. Thường thường lấy nền tảng cái biết phân biệt vạn niệm trên làm căn bản tu tập, mà đã lấy sự phân biệt vạn niệm trên làm căn bản, thì chính ngay nơi đây nhận giặc làm con. Vì văn tự ngữ ngôn … không nói lên được thực tướng của niết bàn. Mà ta thì cứ mãi tìm tòi, suy ngẫm lăng xăng loạn động để tìm chí chân đó, khiến cho chân tịnh đó thành vọng tịnh. Vì tự tánh thanh tịnh đã hằng có từ bao đời, chứ không phải do sự tác pháp, tạo dựng nào mà hình thành nên nó cả.

Thấy, nghe, hay, biết vốn chẳng nguyên nhân.
Đương thế rỗng mầu, tuyệt vọng chân.
Thấy tướng chẳng sinh si ái nghiệp.
Rỗng nhiên toàn hết: Thích Ca Thân.


Tổ Tam Bình

Đó là một bài kệ nói lên tự tánh thanh tịnh hằng có của mình. Cũng ngay đây xin mượn bài kệ của Bàng cư sĩ nói lên 6 cửa giặc; nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý – nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn – nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.

Một bầy sáu tên giặc.
Đời đời lừa giết người
Ta nay rõ bay rồi
Chẳng cùng bay gần gũi
Nếu bay chẳng phục ta
Đến đâu ta cũng nói
Dạy người biết hết bay
Nếu bay chịu phục ta
Ta bèn chẳng phân biệt
Cùng bay ở một chỗ
Đồng chứng vô sanh diệt.


Một bài kệ rất hay, mong ngay nơi đây cũng đừng thấy cái hay đó để cùng nhau ở một chỗ - Đồng chứng vô sanh diệt.
Trong bài này người tu Mật chú Chuẩn Đề phải biết quán soi như trên, thấy chân thật tự tánh, lấy thần chú Chuẩn Đề dạy cho 6 tên giặc kia nói: Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Nếu chúng không nói thì ta hãy nói cho chúng nghe, để mọi người cũng nói, thì ngay nơi đó giặc cũng là ta, ta cũng là giặc đều bình đẳng như như.

Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.




PHẨM 33



Chánh văn:

Đại trượng phu, bỉnh tuệ kiếm,
Bát nhã phong hề kim cương diệm.
Phi đản năng thôi ngoại đạo tâm,
Tảo tằng lạc khước thiên ma đảm.


Dịch nghĩa:

Đại trượng phu cầm kiếm trí huệ,
Bát nhã bén chừ kim cang lóe
Đâu những dẹp phăng ngoài đạo tâm,
Thiên ma cũng phải rớt mật té.


Trong bài này, sư Huyền Giác nói đến người trượng phu cầm kiếm trí huệ, đã nói lên một người hành giả tâm luôn thanh thản, không chướng ngại ở một vật, một tâm niệm nào cả. Luôn thể hiện lên sự sáng suốt thanh tịnh của tự tánh. Sự sáng suốt thanh tịnh đó là trí huệ Bát nhã, cũng là Huệ kiếm. Kiếm Bát nhã, thì không hình không tướng không mũi, nhưng nó rất sắc bén vì nó luôn chiếu soi vạn vật, vạn pháp. Nhìn các tướng không có tự tánh thực thể của nó, lấy “ Tri huyễn tức ly huyễn”. Cho nên kiếm ấy có ánh sáng kim cang lóe lên, xua đuổi những ngoại đạo tâm, nhìn thấy sự chân thật hằng có. Người hành giả như thế mới đúng là bậc đại trượng phu. Giữa chợ đời, giữa cuộc sống không nhiễm ô vì tất cả các sự vật, vạn niệm, vạn pháp đến đều thể hiện Bát nhã kim cang làm diệu dụng.

Đại trượng phu, cầm kiếm tuệ,
Bát nhã bén chừ kim cang lóe
Đâu những dẹp phăng ngoại đạo tâm,
Thiên ma cũng phải rớt mật té.


Lời nói của Ngài nói chí lý, nghĩa là không phải dẹp phăng ngoại đạo tâm, mà thiên ma cũng phải rớt mật té. Vì kiếm trí huệ kia không hình tướng. Cũng chính là bản tâm thanh tịnh sáng suốt, không dính ở một pháp nào cả, không dính ở có không, nó đã hằng có từ muôn thuở. Còn thiên ma phiền não kia chỉ là một tích tắc vô minh vọng tưởng. Mà cái vọng tưởng ấy cũng được sự chở chuyên của bản tâm thanh tịnh. Khi bản tâm thanh tịnh thể hiện, thì vọng tưởng tự tiêu và cũng tự thành bản tâm thanh tịnh kia tức không hai. Trí tuệ thanh tịnh kia ví như mặt nhật. Khi mặt nhật thể hiện lên thì tất cả bóng tối đều biến mất những vạn vật, vạn pháp vẫn ý như vậy không thây đổi không khác.

Giác tánh sáng đầy, không tướng thân.
Chớ đem thấy biết vọng sơ, quen.
Niệm khác ngay trong huyền chỉ tối
Tâm sai với đạo chẳng chung gần
Tình phân vạn pháp, chìm tiền cảnh
Thức soi nhiều mối, mất gốc chân.
Như thế, trong câu mà hiểu được
Như nhiên vô sự, bổn lai nhân.


Tào sơn

Ngay trong cuộc sống hôm nay, lúc nào chúng ta cũng quay lại với tự tánh thanh tịnh của mình, quán soi các pháp như trên để trở thành một hành giả trượng phu, thoải mái ra vào không dính mắc gì cả. Người hành giả Mật chú ChuẩnĐề phải hiện tâm của mình như vậy, rồi lấy Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm để từng giờ, từng phút niệm tụng ấy giúp ta tiệm tu, tỉnh giác thể hiện cái biết chân thật của mình. Chỉ đem theo một Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Không mang theo bất cứ một tâm niệm nào cả đi, đứng, nằm, ngồi – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, không hơn không kém, lấy thần chú ấy đi vào công xưởng, lấy thần chú ấy đi vào sự nghiệp. Cũng đừng lấy mật chú ấy cầu điều chi, thì tự nhiên sở nguyện sẽ thành trụ. Cả sự nghiệp gia tài, trí huệ, sự giàu sang, danh vọng tất cả vạn pháp cũng nằm nơi đó. Khi tâm thanh tịnh – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Tà Bà Ha. Bộ Lâm.

Rất kỵ nơi khác tìm.
Càng xa mình lắm lắm
Ta nay tự mình qua
Chốn chốn đều gặp nó
Nó nay chính là ta.
Ta nay chẳng là nó
Cần phần hiểu như thế
Mới khế hợp như như.

Động Sơn



PHẨM 34


Chánh văn:

Chấn Pháp Lôi, Kích Pháp Cổ,
Bố Tứ Vân Hề Sái Cam Lộ.
Long Tượng Xúc Đạp Nhuận Vô Biên,
Tam Thừa Ngũ Tánh Giai Tỉnh Ngộ.


Dịch:

Nổi Sấm Pháp, Đánh Trống Pháp,
Bủa Mây Từ Chừ Cam Lộ Khắp.
Voi Chúa Dẫm Bước Thấm Vô Biên,
Ba Thừa, Năm Tánh Đều Tỉnh Suốt.


Ở đây Đức Huyền Giác bảo rằng nổi sấm pháp, đánh trông pháp ý Ngài nói khi người trở về với bản tánh thanh tịnh, trở về với cái một giác biết viên mãn, thì lời pháp vang ra xa rộng như tiếng sấm và càng lúc càng thể hiện trùng trùng duyên khởi theo các pháp. Ở pháp nào, niệm nào cũng có tính giác thường biết đó. Thì khi thể nhập vang lên tự tánh giác biết ấy, thì ở mọi nơi: “ Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm” nó không trụ ở đâu, nhưng ở đâu cũng có nó. Cũng như tiếng trống vang lên khắp mọi nơi. Tiếng vang của tự tánh thanh tịnh đó, nó cũng như những đám mây từ bi, cam lộ rưới khắp vạn vật vạn pháp. Loại cam lồ này người nếm được nó, uống được nó sẽ trừ được vạn bệnh khổ, căn bệnh trầm luân khổ ải.

Lời ý của ngài Huyền Giác toàn là sự lý giải thoát, Ngài nguyện lời nói đó như sám pháp vang rền mọi nơi, vạn pháp, vạn niệm. Nguyện những lời đó như tiếng trống rền vang để đánh thức tỉnh ngộ chúng sinh trong u mê. Nguyện khi nói lời đó như đám mây cam lồ đem mưa cam lồ giải thoát kia, mưa khắp trong chúng sinh để làm lợi ích giúp chúng sinh nảy nở hạt giống giải thoát. Mưa pháp cam lồ đó được thắm sâu trong muôn loài, như

Voi Chúa Dẫm Bước Thấm Vô Biên

Loài voi chúa rất lớn, bước đi lớn rộng in sâu, dụ như những lời thuyết pháp kia thấm sâu rộng. Như vậy sự thấm sâu rộng của pháp tánh sẽ thấm sâu rộng luôn trong ba thừa ( tam thừa); Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát, Năm chủng tánh; Định tánh Bồ tát, Định tánh Duyên giác, Định tánh Thanh văn, Bất định chủng tánh, và Vô chủng tánh. Tất cả chúng sinh, cùng 3 thừa, 5 chủng tánh cũng đều được cộng hưởng, vì pháp tánh là một pháp bình đẳng giác, đối với tất cả đều được lợi ích. Khi nghe pháp này tỉnh ngộ lại, ngộ nhập như lai tri kiến. Phật tánh không có sai biệt. Tất cả sự sai biệt đều do sự huân tập mà hình thành. Người huân tập Bồ tát thì thành Định tánh Bồ tát cho đến Thanh văn, Duyên giác cũng vậy. Đó đều là do sự huân tập mà thành cả. Còn pháp tánh đã có sẵn không do một pháp nào mà có, cũng không do bỏ một pháp nào mà thành, đã hằng có. Tất cả chư Bồ Tát, Phật lời sấm pháp đó không riêng cho ai cả, mọi chúng sinh đều lợi ích giải thoát. Chỉ có những người tự bỏ ra đi không tỉnh giác nhìn lại thôi.

Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Chín chữ mật chú Chuẩn Đề này là tâm chú của Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề, cũng là tâm chú của Chư Phật, hay khiến đưa người đến bờ giải thoát. Nó cũng là những tiếng sấm pháp, tiếng trống pháp muôn đời vẫn rền vang trong vạn niệm, vạn pháp, luôn làm lợi ích cho chúng sinh, lợi ích cho ba thừa, năm chủng tánh. Vì pháp tánh kia cũng đã hằng có, chân chú này, tâm chú cũng đã hằng có. Chỉ có con người không nhìn lại tỉnh giác mà tu học thôi. Tâm chú Chuẩn Đề này nó cũng đã hiển nhiên hằng có trong 3 thời quá khứ, hiện tại, vị lai, luôn sống động cổ vũ như tiếng trống pháp, luôn rền vang trong muôn loài như tiếng sấm pháp kia.

Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm



Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:37:41(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
Quang Tue  
#33 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
Quang Tue

Danh hiệu: Newbie

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 0

Được cảm ơn: 2 lần trong 2 bài viết
Chúc mừng Thầy đã ngộ nhập được Thai tạng, Kim cạng tạng. Tôi xin được phủ phục dưới chân người mà hành lễ.

Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm.
ThanhHung  
#34 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1703 lần trong 345 bài viết
PHẨM 35




Chánh văn:

Tuyết Sơn Phì Nhị Cánh Vô Tạp.
Thuần Xuất Đề Hồ Ngã Thường Nạp,
Nhất Tánh Viên Thông Nhất Thiết Tánh
Nhất Pháp Biến Hàm Nhất Thiết Pháp.
Nhất Nguyệt Phổ Hiện Nhất Thiết Thủy,
Nhất Thiết Thủy Nguyệt Nhất Nguyệt Nhiếp.
Chư Phật Pháp Thân Nhập Ngã Tánh,
Ngã Tánh Đồng Cộng Như Lai Hiệp.
Nhất Địa Cụ Túc Nhất Thiết Địa.



Dịch Nghĩa:


Cỏ Phì Nhị Thuần Trên Núi Tuyết,
Cho một Đề Hồ Ta Nếm Thực.
Một Tánh Viên Thông Hết Thảy Tánh.
Một Pháp Bao Gồm Tất Cả Pháp
Một Trăng Khắp Hiện Tất Cả Nước
Tất Cả Trăng Nước Một Trăng Nhiếp.
Pháp Thân Chư Phật Vào Tánh Ta,
Tánh Ta Cùng Với Như Lai Hiệp.
Một Địa Đầy Đủ Tất Cả Địa.
Chẳng Sắc Chẳng Tâm Chẳng Hạnh Nguyện.


Ở phẩm này ngài Huyền Giác nói lên sự tu chứng ngộ nhập như lai thật tướng. Ngài nói tất cả sự vật, vạn niệm, vạn pháp trên, cũng chỉ là một mà thôi. Nó không hai như loại cỏ mọc trên vùng tuyết sơn trên, nó không có một loại cỏ nào mọc xen vào cả. Cho nên nó thuần một.

Vạn pháp hình danh sắc tướng, sanh, trụ, dị, hoại, diệt thấy nó trùng trùng duyên khởi lên nhau, nhưng ngay nơi đó nó có cái không hai. Chúng ta, no biến hành như trên, nhưng thực tế nó chỉ là do các tướng giả duyên hợp vào nhau mà hình thành thôi. Trong đó nó không có thực tướng của nó, do duyên hợp. Cho nên chúng ta thấy nó biến khởi duyên với nhau, cấu tạo nên muôn hình muôn sắc, những thứ đó, những pháp đó ta thấy hiển hiện bên ngoài giả có như vậy. Thấy nó hiện hữu như vậy, nhưng thực tế chúng cũng do tâm thức mà biến hiện cả. Khi tâm thức hiện hiện giả có như vậy. Ngay nơi đây chúng ta không thấy sự duyên hợp giả có đó, mà vô minh chạy theo những sự vọng tưởng, giả danh có trên mà hình thành thế giới căn thân tạo nghiệp dẫy đầy.

Ngay nơi đây chúng ta nên dừng lại tỉnh giác lấy lời giáo huấn của chư tổ mà quay về bến giác. Như đức Lục Tổ Huệ Năng nói: “ Tâm có cả thảy sự vật, tánh là ly cả thảy sự vật”. Có cả thảy sự vật là sao?
Khi căn tiếp xúc với trần, ngay nơi đó chỉ biết thôi, không phân biệt nắm bỏ pháp nào cả. Cũng như người hành giả đi ngoài chợ đời, người ấy thấy tất cả, những sự vật nào là người bán khoai, bán đậu, hoa trái. Tất cả biết, nhưng người hành giả đó không cần phải phân biệt gì cả, không chấp không một vấn đề chi tiết nào cả, ngoài cũng như những niệm lăng xăng xáo động lúc đi chợ đó. Nếu buổi đi dạo chợ đó họ không phải dùng một pháp tu nào cả, họ không khởi niệm gì cả. Thì ngay nơi đó họ làm chủ được, họ sở hữu được cả chợ đó, họ có cả thảy sự vật. Ngay nơi đó tâm của đức Lục Tổ thể hiện. Vì không vướng mắc vào sự chấp bỏ, cũng không có một giác niệm nào cả, cho nên họ cũng ly tất cả sự vật tánh lại hiện bày. Tâm và tánh nơi đó như hư không, hư không ấy chuyên chở cả vạn sự, vạn vật. Tâm hư không nhưng có diệu hữu, đó là cái “ hằng biết” giác tánh mượn văn tự để nói thôi. Ngay nơi đây, nếu chúng ta còn tìm hiểu so đo, thì tâm chân như thành tâm vọng, chân như đã hằng có diệu hữu kia không cần một giác niệm nào nơi đó cả, cũng không có một dấu vết, không có giác niệm ấy nữa, thì:

Một Tánh Viên Thông Hết Thảy Tánh.
Một Pháp Bao Gồm Tất Cả Pháp
Một Trăng Khắp Hiện Tất Cả Nước
Tất Cả Trăng Nước Một Trăng Nhiếp.
Pháp Thân Chư Phật Vào Tánh Ta,
Tánh Ta Cùng Với Như Lai Hiệp.
Một Địa Đầy Đủ Tất Cả Địa.
Chẳng Sắc Chẳng Tâm Chẳng Hạnh Nguyện.


Ngay nơi đây người hành giả tu theo mật chú Chuẩn Đề họ sẽ thể nhập vạn pháp nhẹ nhàng hơn, lấy cái lý một là tất cả, tất cả là một để vào pháp tu bí mật của Chuẩn Đề mật hạnh, một sự trải qua hay một sự thể nhập tánh không diệu hữu trên. Người hành giả mật chú Chuẩn Đề họ nhẹ nhàng xả bỏ, buông thỏng tay, tâm nhẹ nhàng niệm Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, đi đâu họ cũng niệm trong tâm, nội thức luôn vang lên Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Tiếng kẻng vang lên, tiếng còi xe, hạt mưa rơi, tiếng thở dài của người phu công, tiếng khóc trẻ thơ, một chiếc lá rơi, hạt sương đọng trên cỏ, một cảm xúc tuổi thơ, một vầng thơ nhẹ nhàng êm ả, một cơn tức giận nó đến đều thể hiện lên Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Người hành giả mật chú Chuẩn Đề họ tu như vậy, không có một niệm khởi để tu, không có một chút dụng tâm vô công dụng đạo. Đàn tràng của họ là trời xanh, mây trắng, nước chảy, sương rơi, quạ kêu. Ở đâu cũng thấy chư như lai, ở đâu cũng Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Ở ngay nơi pháp tu bí mật này, người hành giả cũng chưa từng bỏ qua cái tôi của họ, vì tất cả vạn niệm vạn pháp trên nó đều thể hiện cái tôi trần tục của trần gian này. Khi thấy cái tôi dơ dáy, cái tôi thiện lành nó đến nó đi bất chợt. Nó đều mang cái biết nơi đó, biết Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Một cũng như vạn niệm đều biết như vậy, thì cái tôi và vạn pháp có khác không?

Một Trăng Khắp Hiện Cả Nước
Tất Cả Trăng Nước Một Trăng Nhiếp.



Ánh sáng lung linh của ngọn đèn dầu tưởng chừng như nó chợt tắt, nhưng để bước qua cái tắt tối đen đó nó vẫn luôn sáng. Vì mỗi niệm, mỗi niệm, mọi vạn pháp chuyền nhau sinh diệt như vậy, nó đều có từng cái biết hằng có trong đó. Người hành giả mật chú Chuẩn Đề họ biết thấy Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Tà Bà Ha. Bộ Lâm, họ thấy như vậy, rồi một giọt sương rơi cảm giác lành lạnh đến với họ, trong cái cảm thọ của lạnh nóng, buồn tủi vui đùa kia của một đứa trẻ một người già, hay một con chim cảm thọ sương xuống nó kêu lên, tiếng khóc của trẻ thơ khi khát sữa mẹ. Tất cả, tất cả cảm thọ ấy, nó cũng đều có chân ngôn, cái biết chân ngôn của tâm chú Chuẩn Đề nó vi diệu như thế, cho nên mới gọi là Phật mẫu Chuẩn Đề. Một dòng chuyển biến, một dòng sinh hóa như trên, mà người hành giả mật chú Chuẩn Đề làm cho tâm chú ấy sống lại, nó sống lại để thể hiện một đức Như lai, một đức Phật, cúng dường mười phương thế giới chư Phật ấy là dòng đạo của Thai tạng Mật giáo, đem tất cả vạn pháp về với như lai bằng con thuyền Kim cang Mật tạng.

Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm
Úm Ma Ni Pát Mê Hùm.






PHẨM 36




Chánh văn:

Đàn Chỉ Viên Thành Bát Vạn Môn
Sát Na Diệt Khước Tam Kỳ Kiếp
Nhất Thiết Số Cú Phi Số Cú
Dữ Ngô Linh Giác Hà Giao Thiệp


Dịch Nghĩa:

Khảy Tay Tròn Thành Tám Vạn Môn,
Sát Na Dứt Sạch Ba Kỳ Kiếp.
Tất Cả Số Câu Chẳng Số Câu,
Nào Có Dính Gì Với Linh Giác.



Ở đây ngài Huyền Giác nói lên sự đốn ngộ, nhận ngay bản tánh chân thật tự tánh thanh tịnh không cần phải đi từ thứ lớp này đến thứ lớp kia, câu cú này đến câu cú kia. Vì bản tánh thanh tịnh đã có sẵn từ vô thủy vô chúng đến nay, không phải dùng một pháp nào để hình thành nó cả. Mà ngay nơi tự tâm thanh tịnh đó mà tỉnh giác nhận ngay không chần chờ, không một mãi suy nghĩ câu cú phương pháp nào cả. Vì tất cả văn tự ngữ ngôn không thể nào diễn bày lên được bản tánh thanh tịnh đó, vì tất cả vạn pháp, vạn thức những thứ hiểu biết trên thế gian này đều hình thành nên do tập khí vọng tưởng. Những loại trí thức mà chúng ta cho rằng là hay là giỏi, bản chất chúng cũng được hình thành duyên hợp giả có nhiều đời nhiều kiếp, rút tỉa dũa mài, gom góp từ người này qua người khác. Mà ngay chính người đó cũng được hình thành duyên hợp trùng trùng duyên khởi trong tâm thức họ rồi để được những của cải giá trị giả danh nó. Vì sao gọi là giả danh có, vì bản chất chúng do những duyên hợp nhiều cái, nhiều đời. Rất nhiều cái hợp thành mà có cái hiện tượng trí thức đó. Cho nên nó không có bản chất thực thể nhất định nó. Chúng cũng bị hao mòn thay đổi theo từng sát na, thời gian không gian, không riêng gì trí thức tâm thức đó, luôn cả những hữu hình núi sông, cây đá, sắt thép, sông núi, mặt trăng, mặt trời, trái đất vũ trụ thiên hà này. Chúng cũng phải bị theo qui luật sanh, trụ, dị, hoại diệt. Những thiên hà cách đây bao ngàn năm ánh sáng, chúng cũng đã hủy diệt từ lâu, rồi sanh đi vì bản thân chúng cũng được hình thành bởi duyên hợp của nhiều chất loại vi sinh, nguyên tử, nó cũng sinh diệt từng giờ, từng phút. Thấy chúng mất đi nhưng nó giả còn ở một hiện trạng khác, thấy chết đi, tử đi, nhưng để sống một loại hình, loại tư duy mới, do một lực kéo nó đi đó là nghiệp lực.

Mỗi vật mỗi pháp mọi ý niệm khi chúng duyên khởi lên nó đều có một lực, một sức xoay chuyển, chuyển động nó tác động để hình thành nên một loại hình thái, một loại tư duy khác sanh tử. Khi nhìn vạn vật vạn pháp với những khía cạnh đó, đức Phật bảo rằng chúng không thật thể do sự duyên hợp mà hình thành nên, có rồi không, không rồi có, từ đó chuyển biến động chuyển hình thành nên vô số giác niệm vô minh niệm, vọng niệm. Ngay nơi những vọng niệm, giác niệm vô minh niệm, vô niệm, hữu niệm chúng sinh lấy những của nghiệp đó tự đi gây tạo nghiệp quả hình thành nên căn thân, thế giới, nghiệp quả báo. Cho nên từ đó căn thân này, chúng ta đã có đầy đủ những thứ kia ra đời, dịch chuyển đến cái mới khởi niệm. Thì ngay nơi đó căn thân chúng ta đã có sẵn đủ thứ hình ảnh sắc tướng, không tưởng, đủ tất cả các niệm tưởng phân biệt, ngày đêm nó biến hành không ngừng nghỉ. Ngay nơi khởi niệm đó, ngay nơi sát na đó có đầy đủ tất cả chủng tử thiện ác, vô ký nó sẽ tự hình thành duyên hợp với nhau, từ trong tự đáy lòng tàng thức căn thân đó rồi cũng ngay nơi đây, sắc thọ tưởng hành thức cảm thọ phân biệt, phân định đúng sai theo từng nhóm tập nghiệp đó, rồi phát ra nơi miệng, yêu thương thì có những loại cảm thọ yêu thương, ngôn ngữ có những loại ngôn ngữ yêu thương ái luyến, nóng giận, buồn khổ… Thì có những loại cảm thọ trùng duyên, nghịch duyên chen nhau phát ra. Khi khẩu không giải quyết nổi những vấn đề tồn đọng chủng tử bên trong hết, không lột hết vấn đề, thì ngay nơi đó “thân” sẽ thể hiện ra – thiện, yêu thì cũng có những hành động nhẹ nhàng, thương cảm do bên trong điều khiển, ngược lại thì ra tay đánh, đấm, đá làm mọi cách, mọi động tác để thể hiện chuyển tải những chủng nghiệp bên trong. Đánh đấm không chuyển hết những cái tồn đọng bên trong, ý bắt đầu đưa ra những mưu mô yêu ghét, thương hận. Kết hợp từng loại trí thức học hỏi từ lâu đời, rồi bên ngoài kết hợp với những loại người, vật cho đến nhóm số đông mà hình thành tô đắp nên nền tảng ngã mạng. Vì ý căn là ngã chấp, những ý niệm bảo vệ, phá hại, mưu lược xâm hại sẽ hình thành. Đã hình thành được thân, khẩu, ý, thì nghiệp mới sẽ hình thành huân tập tiếp vào căn thân thế giới tàng thức. Dòng sanh tử luân hồi không bao giờ chấm dứt. Nước mắt của chúng sanh bốn biến không chứa hết là vậy. Sự lý duyên khởi trùng trùng điệp điệp lên nhau. Chúng ta cứ chạy mãi theo như vậy, thì vô minh không có trí huệ, đều sống trên những sự duyên hợp giả có đó thôi, làm bất cứ những gì, sống như thế nào cũng đều trên nền tảng đó “ Sở tri chướng” – Hay gọi là kiếp trược, kiến trược. Nó đã được hình thành bằng sự sống và nghe trong vô lượng kiếp. Đức Phật ra đời để tu, để chuyển động trong cái chuyển động đó Ngài cũng giả danh thành đạo, cũng nắm tay với chúng sanh để dẫn dắt chúng sanh thoát khổ, chứ thật tế chư Như lai không có thành đạo, không nhập Niết bàn, không tu đạo.

Đức Phật bảo rằng trong 49 năm qua ta không nói một điều gì cả, vì Ngài sợ chúng sanh chấp dính vào những pháp của Ngài, cái mê pháp cũng là si mê, cái tham pháp cũng là tham pháp. Ngài chỉ dạy ta hãy thực hành theo trung đạo, đừng chấp có không, nhơ sạch, thiện ác… Vì tất cả chương cú, ngôn ngữ, ý niệm dính được linh giác.
Tất Cả Số Câu Chẳng Số Câu
Nào Có Dính Gì Với Linh Giác.

Mà ngay nơi bất cứ một pháp nào cho đến không pháp, hãy tỉnh giác nơi đó. Vì bản tánh thanh tịnh nó đã có từ lâu đời, không cần phải phân định suy xét nhiễm ô. Nếu phân định suy xét nhiễm ô thì chân tịnh thành bất tịnh. Ngài dạy cho chúng ta rất nhiều điều, nhưng cuối cùng Ngài sợ ta chấp vào đó, Ngài bảo rằng ta không nói gì cả. Ngay nơi ý niệm không nói gì cả, Ngài đã thầm nói một loại ngôn ngữ chưa từng có bao giờ, bảo rằng cái đó mới là chân thật, cái đó nó đang chuyển tải lời nói Như lai, cái đó là sự sống thai tạng. Một công án ta không nói gì cả, nó đồng nghĩa với : “ Thích Ca niêm hoa Ca Diêp vi tiếu”

Khảy Tay Tròn Thành Tám Vạn Môn
Sát Na Dứt Sạch Ba Tỳ Kiếp.



Ngay nơi đây xin nhắn gửi ai đó, hãy nhẫn nhục một thứ nhẫn nhục rộng lớn, hãy nuôi dưỡng Thánh thai, Thai tạng đó bằng Mật tạng – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm – Úm Ma Ni Pát Mê Hùm.




Cư Sĩ Thanh Hùng
Pháp Hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:40:52(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ledao  
#35 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ledao

Danh hiệu: Newbie

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 0

Được cảm ơn: 2 lần trong 2 bài viết
Em là người mới bước chân vào con đường tu tập do được cuiyang hướng dẫn. Nhưng em thật sự tri ân tới Thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em. Em cảm ơn những tâm huyết mà Thầy đã trao gửi qua những bài viết.

Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm
ThanhHung  
#36 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1703 lần trong 345 bài viết
PHẨM 37




Chánh văn:

Bất Khả Hủy, Bất Khả Tán,
Thể Nhược Hư Không Vô Nhải Ngạn.
Bất Ly Đương Xứ Thường Trạm Nhiên.
Mích Tức Tri Quân Bất Nhã Kiến.


Dịch:

Chê Chẳng Được, Khen Chẳng Được,
Thế Tợ Hư Không Bờ Mé Dứt.
Chẳng Rời Trước Mắt Thường Lặng Trong,
Còn Tìm Tức Biết Anh Mờ Mịt.


Ở bài này đức Huyền Giác nói đến tính linh giác hằng biết, cũng chỉ mượn văn tự để tạm chỉ thôi, chứ thật tế khen chẳng được, chê chẳng được. Tất cả những ý niệm ngôn ngữ đều không động đến tính linh giác đó. Khi tu thiền mật định cũng không thấy ở đó nữa, thấy mà còn không thấy được thì nói làm sao cho được. Ngay đó tất cả sự việc vạn niệm vạn pháp thấy có tướng động tịnh, còn ngay nơi tánh thanh tịnh đó không hề có sự động tịnh gì cả. Nó như hư không kia tất cả sự vật, vạn tướng, vạn niệm thấy có tới lui động niệm do sự duyên hợp mà thành nên tướng kia. Chớ bản chất hư không, không bao giờ có động tịnh gì cả. Vì nó đã thường hằng không chờ một duyên nào tác động đến, không nhờ một duyên nào làm cho nó tịnh cả.

Khi chúng ta tác pháp, làm tất cả thì cũng chỉ trong phạm vi của sự vọng tưởng điên đảo. Hư không kia còn có tính như thế, còn tánh linh giác thanh tịnh kia mặc dù không động, không tịnh. Nhưng có cái tạm gọi là diệu hữu, cái diệu hữu này là nói đến sự sinh sống thực tại ngay chỗ các pháp thể hiện lên. Mỗi pháp khi chúng thể hiện lên, hay nói chúng sinh diệt lên nhau. Ngay nơi đó cũng đều cá cái hằng biết sẵn có nơi nó. Cái biết này nó thường hằng không dừng trụ ở một pháp duyên nào cả. Nó rất ngộ là khi tác động, hay không tác động để ý vào nó, thì chỉ trở thành sự vọng tưởng, một sản phẩm bắt buộc, có khi để ý nó. Cho nên văn tự ngữ ngôn chê khen không đến không dính gì với nó cả.

Thể Tợ Hư Không Bờ Mé Dứt
Chẳng Rời Trước Mắt Thường Lặng Trong,
Còn Tìm Tức Biết Anh Mờ Mịt.

Thật tế nó là như vậy: “ Chẳng rời trước mắt thường lặng trong”. Nó ở trước mắt mọi duyên, mọi vạn niệm, nhưng không ai tác động vào nó, không văn tự ngữ ngôn tác động vào nó được. Thế mới nói rằng “ Thường lặng trong”, một sự lặng trong thật bí hiểm, không giãi bày, không giải tỏ được. Ngay đây người hành giả phải biết cái sự lặng trong của nó, phải nhẫn nại mà xem hoa vàng, mưa phùn, suối reo, chim hót, nhảy múa động dụng. Rồi bất động tĩnh lặng cứ cho nó cuốn nhè nhè, cuốn đi mạnh bạo. Trong thác đổ mưa ngày, ca hát quyét đường những hạt bụi bay. Người hành giả ở đây cứ yên lòng niệm : Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Rồi để gió cuốn đi câu chú đó, để tiếng chim kêu thể hiện nó thần chú. Rồi cứ để ngày đêm, sáng tối mặt trời mọc, mặt trăng sáng lan tỏa ánh sáng: “ Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm”. Có như thế ngay đó chúng ta mới thực tại chứng ngộ cái “ tôi” ngay nơi vạn niệm đó. Thấy cái tôi ấy lúc đó mới thoát ra không còn sự ràng buộc, thể hiện cái tôi của mật chú Chuẩn Đề. Để cái biết mật chú ngay nơi sự thai nghén tư tưởng, thai nghén nó sẽ nở hoa phát sáng trong từng nụ cười ánh mắt của trẻ thơ, bà già, ông già. Của sự sáng lên của mặt trời. Ngay nơi đó không còn thấy là mặt trời, không còn thấy nụ cười vầng thơ nữa, mà Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm nó đã thành hình trong thai tạng của vạn vật, vạn pháp. Thai tạng đó nó có trong từng vạn niệm, vạn pháp, một nụ cười tiếng khóc, một cánh rừng hoang giã, rừng núi suối reo. Tất cả của những sự uốn khúc ảo giác trong tâm ta, những nhịp tim nghe nó từ trong đáy lòng đó nó phát ra mật chú.

Bài này viết ra để tự mọi cá nhân hãy tự khế hợp mình với vạn sự, vạn vật với mật chú, để cuối cùng mật chú đó sẽ là thai tạng trong vạn pháp. Ngay nơi đây người hành giả hãy tự chứng ngộ chân ngôn mật pháp. Mật chú nó có trong từng vạn pháp thể hiện ra từng hình tướng, từng cảm giác, cảm thọ. Nó sẽ là sức sống năng nổ, là động lực thúc đẩy vạn pháp sống lại trở về với tánh linh hằng có. Một sự khế hợp bí mật. Vì tất cả ngôn ngữ, mọi người, trời đất, thánh thần cũng không thấy được sự khế hợp đó. Mật chú tánh linh hằng có không khác, luôn luôn lúc ào cũng có tánh linh mật chú trong vạn niệm, vạn pháp, luôn nói lên sự sống thực tại giải thoát không gì ngăn cản nó. Vì nó không bao giờ đụng chạm tới ai, và ai cũng chưa từng đụng chạm tới nó. Mật chú chân ngôn hằng có đức Phật, chư Thánh, chúng sanh đồng có nơi đó. Một thai tạng vô hình bất biến. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là một người đại trí, một loại trí huệ siêu việt, trí huệ này nó cũng đã từng có sẵn trong loài người và chư thiên. Ngài đã thấy chứng ngộ, Ngài tạo ra rất nhiều phương tiện để độ sanh. Thiền, Tịnh, Mật, 3 tông này Ngài lấy sử dụng đó trong cái tông không tướng, vô tướng, vô niệm để hình thành nên 3 tông đó. Nó được sống lại do sự thai tạng trong các pháp. Sau khi đức Như lai diệt độ, thai tạng hằng có thanh tịnh đó là Như lai, Ứng cúng chánh biến tri. Thật vi diệu.
“ Muốn khỏi luân hồi không đâu bằng cầu Phật – Nếu muốn cầu Phật, thì Phật tức tâm.
Tâm nào tìm chi cho xa, đâu có lìa thân này. Sắc thân là giả, có sanh có diệt. Chân tâm như hư không, chẳng đoạn chẳng biến. Cho nên nói: Hài cốt vỡ tan trở về lửa gió, một vật trường linh che trùm trời đất”

Chân Tâm Trực Thuyết.


Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm
Úm Ma Ni Pát Mê Hùm


PHẨM 38




Chánh văn:


Thủ Bất Đắc, Xả Bất Đắc,
Bất Khả Đắc Trung Chỉ Ma Đắc.

Dịch:

Lấy Chẳng Được, Bỏ Chẳng Được,
Trong Chẳng Thể Được, Liền Thế Được.

Đây là một loại chuyển ngữ mà Đức Huyền Giác đã thể hiện một hình ảnh tâm. Hình ảnh của tâm thì nó không có sắc tướng, mà nó cũng không phải không có. Cho nên “ Lấy chẳng được”, sờ trước mắt mà thủ bất đắc. Khi có nó rồi thể hiện, khế hợp trong cái không khế hợp không được, không có chỗ bám tâm, bám vào để tâm sinh, thì ngay chỗ ấy mới thật là được. Thật là ngộ nghĩnh phải được trong cái không được, không chỗ bám víu trên mới là xong. Nhưng khi xong chuyến này, thì cũng không chỗ để, được rồi cũng không chỗ cất. Xả bất đắc, bỏ chẳng được. Ngay nơi chỗ không bám víu vào đâu để cho tâm sinh, thì tức khắc nhận ngay đó, đi không cần phải suy nghĩ đắn đo gì cả. Khi suy nghĩ thuộc gì tình thức, hãy lấy nhận ngay chỗ không được gì, tỉnh giác nơi đó thì liền được.

Trong tất cả hành trạng tâm thức của người hành giả đối với vạn pháp. Thì ngay nơi đó chúng phải thật tỉnh giác lấy tính không của nhà Phật, nhìn mọi vật đều thấy được duyên giả tạo, hình thành sinh diệt trùng trùng duyên khởi lên nhau. Nếu chúng ta thấy tỉnh giác như vậy được là trong mọi hành trạng ý niệm đều có cái biết của mình tỉnh giác ngay đó. Mặc tình cho vạn pháp sinh diệt muôn hình vạn tượng, người hành giả chỉ biết ngay chỗ sinh khởi đó, cái biết đó nó hằng có trong muôn đời, nơi sự vật vạn pháp. Chúng ta không cần phải phân biệt, bận tâm, duyên đến cứ biết duyên đi cứ biết trong tâm ta không có một gợn tình thức thọ cảm nào nổi lên cả. Khi có tình thức thọ cảm, ý niệm trong tâm nổi lên, thì ngay đó nó cũng sẽ có cái biết nổi lên. Đến một lúc nào đó tự nhiên chúng ta cũng không cần cái biết đó nữa. Vì tất cả cũng chỉ là vọng tưởng, sở tri chướng thôi. Lúc này ta bình thản an lạc để cho cái biết bí mật, trong tâm mật đó tự nổi lên, nhưng ngay đây phải thực hiện tỉnh tỉnh mà lặng lặng. Cái xao động nổi lên “ tỉnh tỉnh”, nhưng không dính mắc phân biệt loạn động là “ lặng lặng”.

Người hành giả Mật chú Chuẩn Đề lấy tất cả sự lăng xăng loạn động, tĩnh lặng vạn pháp mà nghe ngay nơi nó sinh diệt loạn động đó Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Tất cả các duyên, ý niệm một pháp nào đến người hành giả cũng nghe chân ngôn ấy. Mới ban đầu chúng ta nghe Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, cái âm của chín chữ viết rõ ràng, về sau càng lúc càng lúc khi tâm người hành giả bắt đầu có thấy mật chú đó ít nhiều trong vài ý niệm sự vật. Như có thể nghe thấy tiếng chim kêu, mà nghe thành Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, hay tiếng xe ô tô, xe máy. Khi tập sự nghe được như vậy thì chín âm đó nó đã gom nhỏ lại, nó đi từ sự thô kệt lớn dài rộng đến sự nhỏ nhiệm vi tế. Đến một lúc nào đó, người hành giả khi ngồi tĩnh tọa thiền quán chỉ thấy một hạt sáng trong tâm như những vi trần nổi lên, thì cũng nghe thấy Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Nghe được một hạt nguyên tử đó cho nhẫn đến nhiều hạt nổi lên, nổi lên Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, cứ thiền quán như thế, cho đếnn hiều rất nhiều hạt nguyên tử đều niệm thì ta sẽ thấy trong vạn pháp đó nó thường niệm Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Thấy như vậy, cũng là thấy được sự diệu dụng của Đức Phật Quán Thế Âm Như Lai. Khi nghe thấy như vậy được thì người hành giả cũng không thấy thân mình nữa, vì tất cả vũ trụ này nó cũng đều hình thành bằng những vi sinh nguyên tử không khác nhau. Một cũng là nhiều, nhiều cũng là một, một hạt cát cũng là Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Thì tam thiên đại thiên thế giới kia cũng là Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.

Người hành giả tu theo mật chú Chuẩn Đề kết hợp được hai nền tảng tư tưởng Hiển và Mật, từ đó mới được tự do thoải mái. Vì tất cả pháp vạn niệm người hành giả kia đều biết được tướng không giả có, thâm nhập lý không vô tướng. Từ đó thể hiện từng bước mật chú trong từng ý niệm từng pháp. Khi tâm người hành giả đã thông được như trên vào ra trong tâm thức “Lý” không chướng ngại, vào ra trong sự hành pháp không vướng lại tất cả là tất cả đàn pháp, mạn đà la đều thực hành thông lạc, an lạc trong pháp sự. Có nhìn thấy được tướng duyên hợp giả có trên, thì người hành giả sẽ chủ động, sự dung được những hình trạng mạn đà la là vuông, tròn, tứ trụ, bát trụ, mọi hành trạng mạn đà la... Như vậy thì người hành giả sẽ dễ dàng đi trong lý sự viên dung Hiển Mật viên thông mới là cứu cánh.

Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm
Úm Ma Ni Pát Mê Hùm



Cư Sĩ Thanh Hùng
Pháp Hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:42:42(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#37 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1703 lần trong 345 bài viết
PHẨM 39



Chánh văn:

Mặc Thời Thuyết, Thuyết Thời Mặc
Đại Thí Môn Khai Vô Ủng Trắc.
Hữu Nhân Vấn Ngã Giải Hà Tông,
Báo Đạo Ma Ha Bát Nhã Lực.


Dich:

Im Thời Nói, Nói Thời Im.
Cửa Đại Thí Mở Toang Thông Suốt.
Có Người Hỏi Ta Giải Tông Gì,
Thưa Rằng Ma Ha Bát Nhã Lực.


Đây cũng nói lên hình ảnh tâm của Đức Thích Ca, khi Ngài niêm hoa dơ cánh hoa lên, ngay tức thời đó Đức Ca Diếp mỉm cười. Ngay đó Ngài không nói, nhưng đã diễn đạt tất cả vạn pháp, Ngài Ca Diếp cũng không nói điều gì, nhưng cũng đã nhận thấy được tất cả. Ở sự tu hành nghe và thấy đều sự dụng cho nhau, họ thấy ở cảm thọ, nghe và thấy đều sử dụng cho nhau. Họ thấy ở cảm thọ, nghe ở cảm thọ, thấy nghe ở cái biết. Cho nên sự nghe thấy đó không cần phải dùng một loại ngôn ngữ nào để diễn đạt cả. Vạn pháp cây cỏ, hoa lá, đất đá sông núi, chim ca đều diễn đạt được càn khôn vạn pháp trong đó, luôn luôn mở toang cánh cửa đại đó.

Im Thời Nói, Nói Thời Im.
Cửa Đại Thí Mở Toang Thông Suốt.


Tất cả cử chỉ nhướng mày, mỉm cười dơ tay, dơ gậy đều diễn đạt được. Chúng ta thấy nghe như vậy, thì mới xứng với pháp, không phải nghe suông, không cần có ngôn ngữ, không đợi người mở miệng mới nghe được. Nghe được như vậy là ta nghe được suốt ở mọi khía cạnh, ở mọi vạn pháp, ý niệm.

Có người hỏi Ngài Duy Chánh Thiền sư: Thầy lấy danh là Thiền sư, mà sao không nói thiền?
Ngài bảo rằng: Ngày đêm nhờ vạn tượng diễn bày, ngôn ngữ nói ra có gián đoạn, mà pháp này vô tận. Cho nên gọi là tạo hóa vô tận tạng.
Ngài nói rằng, mặc dù không nói gì về Thiền cả, nhưng ở vạn tượng, vạn pháp muôn hình muôn vật đều diễn bày được diệu pháp. Chỉ cần thấy một đóa hoa, một tiếng chim, một giọt nước, tiếng gió nó cũng khế hợp được tâm ta cùng với vạn tượng. Ngay đó vạn tượng cùng người không nói gì. Nhưng có một loại ngôn ngữ bí mật, một loại hình ảnh tâm đã thể hiện được điều đó.

Người hành giả thấy một đóa hoa, họ sẽ thấy nó đang trong một sức sống, nó đang trong từng sát na của thời gian, đang nở dần. Trúc biếc xanh kia cũng vậy, nó đang xanh biết trong tâm và cảnh, đồng diễn đạt được nơi đây. Cái lực mà làm cho sự thấy sống lại của vạn tượng kia. Ngài Huyền Giác nói:

Có Người Hỏi Ta Giải Tông Gì,
Thưa Rằng Ma Ha Bát Nhã Lực.


Cái lực này nó sẵn từ bao giờ. Khi con người không chỗ bám víu, tâm ngay chỗ đó không sinh, thì lực rộng lớn bát nhã đó thể hiện - Ma ha là lớn, Bát nhã là trí huệ - Lực trí huệ rộng lớn. Nó rộng lớn vì chõ nào cũng đều có nó cả, nó không bị hạn chế chấp dính ở một điểm nơi nào cả. Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm. Nó rộng lớn viên tròn trong vạn tượng, vạn pháp, gọi là tâm. Có viên tròn không dính mắc ở bất cứ vạn pháp, một pháp nào, thì mới đúng là tâm. Từ chỗ không dính mắc ở một pháp, một niệm nào. Cho nên nó đồng với sự ly tất cả pháp đó, là thể hiện lên bản tánh thanh tịnh đúng với câu: “Có cả thảy sự vật là tâm, Ly cả thảy sự việc là tánh”. Lấy ngay câu này để chúng ta khế hợp với mật chú Chuẩn Đề - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Chúng ta thể hiện tất cả pháp tất cả ý niệm, mỗi mỗi pháp đều thấy nghe mật chú - - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Có pháp thấy cũng nghe, có hình ảnh cũng nghe, không hình ảnh không thấy cũng đều nghe. Chúng ta thấy nghe tất cả pháp viên dung như vậy, thì tất cả sẽ được bình đẳng. Tất cả sẽ là một, một là tất cả. Cho đến khi đó, không con một khởi niệm nghe thấy gì cả, mà tất cả vạn tượng đều niệm cho. Khi đó thì có công, nhưng dụng được đạo.

Trong tất cả đều là đạo, mặc tình tới lui xuôi ngược, khế hợp cái không khế hợp được, thì ngay đó chính là tâm của đức Phật Mẫu Chuẩn Đề.

Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm
Úm Ma Ni Pát Mê Hùm.

Chân tâm cùng vọng tâm khi đối cảnh làm sao phân biệt chân vọng?
- Vọng tâm đối cảnh có biết, nhưng mà biết nơi cảnh thuận nghịch, rồi khởi tâm tham sân. Lại trong đó chứa cảnh rồi khởi tâm si. Nơi cảnh khởi 3 độc tham, sân, si đủ rõ là vọng tâm.
- Còn chân tâm không biết mà biết, chiếu khắp bình đẳng, nên khác với cây cỏ. Chẳng sanh yêu ghét, nên khác với vọng tâm. Tức đối cảnh rỗng sáng chẳng yêu, chẳng ghét, chẳng biết mà biết ấy là chân tâm.



PHẨM 40






Chánh văn:

Hoặc Thị Hoặc Phi Nhân Bất Thức,
Nghịch Hạnh Thuận Hạnh Thiên Mạc Trắc.
Ngô Tảo Tằng Kinh Đa Kiếp Tu,
Bất Thị Đẳng Nhân Tương Cuống Hoặc.

Dịch:

Hoặc Phải Hoặc Quấy Người Chẳng Biết,
Thuận Hạnh, Nghịch Hạnh Trời Khó Xét.
Ta Đã Từng Qua Bao Kiếp Tu,
Nào Phải Tầm Thường Cùng Dối Gạt.


Trong bài này, ngài Huyền Giác nói chỗ phải quấy, trái phải. Ngay bản tâm thanh tịnh, thì không có phân biệt phải quấy trái phải gì cả. Vì bản tâm ấy không có vật trong đó, cũng không thiếu một vật trong đó. Tạm nói là vật, là này, là kia để hình thành ngón tay chỉ mặt trăng thôi. Chứ thật tế trăng đã sáng từ vô thủy, trăng không di không dịch, cũng không trụ, thì tay nào chấp dính nơi đấy được. Ở ngay đây chỉ có người không hội, không nắm, không bỏ nó, không bị vướng víu nào tâm sinh, thì mới gọi là đạo. Tất cả vạn pháp, chúng ta cứ tĩnh tâm ngồi quán tưởng từ thấp đến cao, từ nhiễm ô đến trong sạch, từ thiện đến ác. Thử xem coi tất cả chỉ là một trò phi tưởng, chấp giữ những cái sở tri trong tâm thức mà ra thôi. Bây giờ ngay đây chúng ta ngồi thiền quán tướng sự vật, thấy nó duyên hợp giả có, rồi lấy cái lý đó để làm bàn đạp, làm kinh nghiệm tu chứng, thì thật ra rất là phiền toái. Vì tất cả những nghĩa lý sâu xa kia chúng ta cho rằng nó bay bổng, bay xa cao vời vọi, là phương tiện cứu cánh đi nữa. Thì thực ra nó cũng được un đúc, góp nhặt được nhiều người, nhiều ý niệm mà hình thành nên. Từ đó người ta lấy những ý niệm đó đặt thành ngôn từ kinh nghiệm giảng dạy. Rồi đến hôm nay chúng ta cứ mải mê chạy theo hình danh sắc tướng, ngôn ngữ đó rồi chấp dính si mê, lấy cái đó bảo rằng do của mình mà có.
Những cái ta thấy được, ta nghe được, thọ cảm được đều biết được. Đó gọi là sở tri chướng. Chúng ta bao năm qua, bao đời, bao kiếp lặn lội, trôi nổi trong sinh tử luân hồi, lấy cái đó để là sự sở tri chướng của mình, lấy cái giả vọng tưởng đó để đi tìm cái chân. Thì không có bao giờ, không được bao giờ. Khi chúng ta lấy những thứ đó phải luôn tỉnh giác, nhớ nghĩ đến lời đức Phật, chư Tổ giảng dạy, mà ngay nơi đó hãy thong thả tỉnh giác, quán soi sự vật để biết rõ bản tánh chân thật thanh tịnh của vạn pháp. Hãy buông xả những điều đã học, biết sự giả hợp của vạn pháp hình thành hư huyễn. Ngay đó tỉnh giác không chấp, không bỏ. Để chúng ta thoải mái nhẫn nhục đợi thời duyên chín mùi, khế hợp với bản tánh thanh tịnh. Ngay nơi đây người hành giả, nên tự niệm - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Vì 9 chữ thần chú này, nó cũng không có nghĩa gì để người hành giả bận tâm, chấp dính vào nó. Ngay nơi đó tâm người hành giả sẽ sanh một cảm giác nhè nhẹ, do thọ nhập thần chú trì niệm, từ từ thọ nhập trì niệm đó, nó sẽ sanh một lực vô hình không từ đâu đến, không phương hướng. Cái lực đó sẽ giúp cho nội thức niệm - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Thật vi tế nhỏ nhiệm, khi nội thức hình thành nội niệm này rồi, thì cái biết sẽ có mặt trong từng sát na, cái biết đó không một cũng không, hay không đến không lui, không sanh không diệt. Ngay đây:

Hoặc Phải Hoặc Quấy Người Chẳng Biết,
Thuận Hạnh, Nghịch Hạnh Trời Khó Xét.
Ta Đã Từng Qua Bao Kiếp Tu,
Nào Phải Tầm Thường Cùng Dối Gạt.

Ngay đó với tâm hạnh đó người hành giả buông thỏng tay vào chợ tác phật sự, tùy duyên thuận nghịch mà tới lui. Kinh nói: “Được niệm hay mất niệm không gì chẳng phải là giải thoát. Pháp thành, pháp phá đều là niết bàn. Trí tuệ ngu di đều thông làm bát nhã, pháp thành tựu của Bồ tát, ngoại đạo cũng là Bồ đề”.

Ngay nơi đó người hành giả họ tự điều phục lấy mình, vì họ biết rõ hành trạng của chư pháp, làm bất cứ điều gì cũng phải ngay nơi tâm họ an lạc, không phân biệt dính mắc một mảy may nào cả. Thuận nghịch tự điều phục chỉ một một đích làm lợi lạc cho chúng sanh, thể hiện phật pháp vạn tượng, vạn pháp.



Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.
Úm Ma Ni Pát Mê Hùm.



PHẨM 41






Chánh văn:


Kiến Pháp Tràng, Lập Tông Chỉ,
Minh Minh Phật Sắc Tào Khê Thị.
Đệ Nhất Ca Diếp Thủ Truyền Đăng,
Nhị Thập Bát Đại Tây Thiên Ký.


Dịch:

Dựng Pháp Tràng, Lập Tông Chỉ,
Rõ Ràng Phật Dạy Tào Khê Đấy.
Ca Diếp Đứng Đầu Lãnh Truyền Đăng,
Tây Thiên Hăm Tám Đời Tổ Kế.






Đức Huyền Giác nói nơi đây đã dựng pháp tràng, lập tông chỉ để giảng dạy, ngài đã thực hiện theo pháp tạng của Chư Phật qua nguồn Tào Khê.

Đức Lục Tổ Huệ Năng là một vị tổ thứ 6 kế truyền. Từ khi Đức Đạt Ma đem mật tạng Thiền tông sang Trung Quốc – Đức Đạt Ma là vị Tổ thứ 28, ngài được kế thừa từ Tổ Bát Nhã Đa La. Sự truyền thừa này nó bắt đầu từ Đức Phật. Ngài đã “niêm hoa Ca Diếp vi tiếu”. Một sự truyền tâm mật tạng từ đời này qua đời nọ. Suốt từ Tổ Ca Diếp đến Đạt Ma là 28 vị. Trong suốt thời gian đó, chư Tổ đã cung dưỡng Phật tánh, trong quý Ngài đã có một sự sống thông suốt từ đời này qua đời khác. Sự sống đó nó cũng là sự sống của muôn thuở từ vô thủy vô chung đến nay nó vẫn sống. Sự sống đó không thể ai đó cho nó sống, không thể ai đó cho nó chết hủy diệt được. Vì sự sống đó là linh thể của thời gian, của không gian của vạn sự, vạn vật. Nó là nguồn để cho cả 3 cõi; Dục giới, sắc giới, vô sắc giới của vạn pháp của trời người sống thể hiện lên. Không có nó thì không có cánh tay của đức Phật dơ cành hoa lên, không có nó thì cũng không có nụ cười của Đức Ca Diếp, và cũng không có tiếng khóc, gió reo, mặt trăng, mặt trời, cái nhướng mày, tiếng thét, rừng núi, trời người, chúng sanh, ngạ quỷ, địa ngục, niết bàn.

Đức Phật đã trao cái ấy chó Ca Diếp, Ca Diếp đã tâm ấn trao lại đến Đức Lục Tổ Huệ Năng, đến đó cho đến nay, cái ấy cũng không thêm, không bớt. Cũng không ai có, cũng không ai cất giữ nó được. Chỉ có như thị, như thị…Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm – Úm Ma Ni Pát Mê Hùm.



PHẨM 42





Chánh văn:

Pháp Đông Lưu, Nhập Thử Thổ,
Bồ Đề Đạt Ma Vị Sơ Tổ.
Lục Đại Truyền Y Thiên Hạ Văn,
Hậu Nhân Đắc Đạo Hà Cùng Số.


Dịch :

Pháp Sang Đông, Vào Trung Quốc,
Bồ Đề Đạt Ma Tổ Thứ Nhất.
Y Bát Sáu Đời Thiên Hạ Nghe,
Người Sau Đắc Đạo Không Kể Xiết.

Ở đây Đức Huyền Giác nói tiếp theo phần truyền thừa Thiền tông từ Đức Đạt Ma sư tổ, đến Đức Lục Tổ Huệ Năng. Sự truyền thừa này bắt đầu từ Đức Bát Nhã Đa La trao giáo pháp này từ Thiên Trúc cho Đức Đạt Ma sư tổ, sang Trung Quốc truyền lại. Ngài sang Trung Quốc truyền cho Đức Huệ Khả, rồi tổ Huệ Khả truyền sang Đức Tăng Xán, cho đến Đức Lục Tổ Huệ Năng. Trong thời gian truyền thừa này, rất nhiều người thọ nhận tu học thành đạo quả. Nhất là ở thời Đức Lục Tổ, giáo pháp Thiền tông được hưng thịnh, cực thịnh:

Người Sau Đắc Đạo Không Kể Xiết.


Sự truyền thừa bằng y bát đến đời Lục Tổ Huệ Năng thì cũng chấm dứt. Khi Đức Đạt Ma sư tổ qua Trung Quốc, vì Ngài là người Ấn Độ để làm tin sự truyền thừa cho thế gian, người đời, Ngài mới bắt đầu lấy y bát làm tín vật chứng minh truyền thừa lại cho Đức Huệ Khả. Đức Huệ Khả là người Trung Hoa đầu tiên thọ nhận Thiền tông này, sự truyền y bát cho 6 đời.

Y Bát Sáu Đời Thiên Hạ Nghe,
Người Sau Đắc Đạo Không Kể Xiết.


Qua đời truyền thừa, đến Đức Lục Tổ Huệ Năng là Thiền tông đã hưng thịnh, người đời đã trọn tin vào giáo pháp Thiền tông rồi, cho nên Đức Lục Tổ không truyền y bát tiếp nữa. Trên là một lý do, và có những lý do cho tâm tham, sân, si của người đời chỉ chấp chặt vào y bát hình tướng kia mà tham cầu. Lòng si mê tham cầu đó đã gây ra biết bao điều tranh chấp, tranh giành. Đức Lục Tổ cũng đã nằm trong hiểm họa đó, cho nên Ngài để tránh những điều đó, muốn chúng sanh hãy quay về với tự tánh thanh tịnh của mình mà tỉnh giác tu học. Còn y bát chỉ là hình thức bên ngoài thôi. Chủ đích là sự tỉnh giác thọ nhận tâm pháp, phật tánh thanh tịnh.

Và điều thứ 3 nữa Ngài không truyền y bát nữa là ở bài kệ của Đức Đạt Ma sư tổ.

Một Hoa Nở Năm Cánh,
Kết Quả Tự Nhiên Thành.


Từ những yếu tố nguyên nhân trên, từ đó trở về sau không con truyền y bát nữa, chứng thực qua lời kệ đó thì thấy từ Ngài Đạt Ma sang truyền cho đúng 5 đời nữa. Trong năm đời này tự nhiên nhiều người biết tới, hiểu thông, học hỏi tự chứng vô số kể và qua năm đời đó được các đời Tổ truyền sang Tổ.

Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm
Úm Ma Ni Pát Mê Hùm



Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu Chánh Trí




Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 03:01:54(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#38 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1703 lần trong 345 bài viết

PHẨM 43


Chánh văn:

Chân Bất Lập, Vong Bổn Không,
Hữu Vô Cấu Khiển Bất Không Không.
Nhị Thập Không Môn Nguyên Bất Trước,
Nhất Tánh Như Lai Thể Tự Đồng.


Dịch:

Chân Chẳng Lập, Vong Vốn Không,
Có Không Đến Bặt Chẳng Không Không.
Hai Chục Cửa Không Nguyên Chẳng Dính,
Một Tánh Như Lai Thể Tự Đồng.


Ở đây sư nói đến chân và vọng. Ngài bảo rằng không có vọng chân gì. Vọng chân là do tâm sinh ra mà thôi. Tâm sinh các pháp đều sinh, tâm diệt các pháp đều diệt. Bản chân tâm nó hằng có, không cần phải bỏ vọng mới thấy chân. Khi khởi tâm bỏ tức ngay nơi đó tâm đã sinh rồi, tự ngay nơi đó tâm ta đã đem cái chân thành vọng, không cần phải sinh một pháp nào trong đó cả. Khi tâm ta khởi bỏ cũng tức ngay đó tâm ta đã sinh. Ngay nơi đây chúng ta hãy tự tỉnh giác quán soi nó. Bản chất của tâm vọng nó không có thật thể của nó, nó do nhiều duyên biến hiện giả hợp lên, nó như cái bóng nếu tâm ta không khởi thì không có nó. Nếu tâm không khởi thì đâu cần phải bỏ cái gì trong đó. Cho đến cái không cũng không có nữa, vắng lặng không chỗ tâm bám víu vào để sinh. Ngay đây rất nhận nại mỉm cười, đứng có chỗ nơi đây...

Chân Chẳng Lập Vong Vốn Không
Có Không Đều Bặt Chẳng Không Không,


Tiếp đến Ngài nói đến 20 cửa không.

Hai Chục Cửa Không Nguyên Chẳng Dính,
Một Tánh Như Lai Thể Tự Đồng.

Hai chục cửa không này nó đều nằm trên lý duyên hợp cả - căn, trần, thức do 3 cái này duyên hợp với nhau tạo thành. Dừng 3 cái này lại thì tất cả đều thể không, nhưng luôn cả cái không, cái dừng đó cũng đều vắng bặt, thì 20 cái không kia đã đồng thể như lai tạng.

Ở bài viết này cũng mượn văn tự ngữ ngôn để thể hiện lên 20 cái không.

1. Nội không: Nội không này do 6 căn không có thực thể của nó, nó cũng do sự huân tập tàng chứa lại rồi khi căn ấy những hình ảnh những pháp tàng ấy duyên lại với trần cảnh thành ra có, nhưng thật thể là sự duyên hợp giả có cho nên gọi là không. 6 cửa; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp như 6 con khỉ, 6 con khỉ này kêu khọt, khọt, khọt...con khỉ trong không kêu thì tự nhiên dừng, biết duyên hợp giả tướng là đủ, không cần phải đoạn diệt có không nơi đó.
2. Ngoại không: Là cái không ở bên ngoài 6 trần, 6 trần này cũng là duyên hợp cả. Không có tự tánh nhất định cũng là không, căn không động đối với 6 trần thì cái không bên ngoài thể hiện.
3. Nội ngoại không: Ở đây chúng ta nhìn lại, tỉnh giác một lần nữa để thấy sự giả hợp của lục trần, lục căn. Khi thấy 6 trần bên ngoài giả hợp không có thực thể tức không. Bên trong cũng do tàng chứa những duyên, những pháp không thật thể cũng do giả hợp thì 2 cái ngoài và trong đều không nơi đây.
4. Không không: Khi 6 trần là không, căn là không, 6 thức ngưng phân biệt, vì sự phân biệt ấy cũng là trên nền tảng duyên hợp huân tập lẫn nhau cả. Cho nên ngay đây người hành giả cũng đừng đắn đo đến những cái không đó, không cần phải biết không nơi đây để không cũng không.
5. Đại không: Đại là lớn, cái không lớn mà cái không nào là lớn. Khi nói đến đại lớn hay hoặc nhỏ nó đều nằm ở sắc không. Cho nên đại không tức là không gian; Đông, Tây, Nam, Bắc, 10 phương đều không. Người hành giả tu hành cũng phải biết cái không đó cũng là không thực thể, nó được hình thành lớn nhỏ, cũng do dự huân tập ý niệm trong tâm thức chúng ta. Khi tâm chúng ta đã khởi niệm phân biệt có, không, lớn, nhỏ thì ngay nơi đó thế giới, sự giới hạn sẽ hình thành, hình thành ý niệm ta, rồi người, nước này, quốc độ nọ, đông, tây, nam, bắc, tây nam, đông nam...trên dưới. Khi con người đã tự vọng niệm phân biệt kia rồi, thì bị trói buộc trong giới hạn. Khi chúng ta tỉnh giác nhìn thấy nó rồi, quốc độ, sông, núi, con người, tất cả đều duyên hợp cả, thì sẽ thành cái đại không. Mà khi đã thành ý niệm đại không của không gian kia rồi, thì cái không ấy cũng là sự duyên hợp giả cả, không tướng.
6. Thắng nghĩa không: Thường khi tu hành trên lý, thấy tất cả là duyên hợp giả có không, rồi bỏ luôn cả cái không đó, nhưng tâm ta hay tưởng đến cái niết bàn chân lý thắng nghĩa không kia. Trong cái không đó, vọng thành đối đãi chấp vàp đó cho là Niết bàn hay là chân lý cứu cảnh. Mặc dù nó thể hiện như vậy, nhưng cũng nằm trên sự đối đãi vi tế trong tâm ta, hãy thản nhiên đừng chấp dính vào đó nữa.
7. Hữu vi không: Tất cả những pháp trên chúng ta đều thấy nó là duyên hợp không rồi, thì tất cả pháp có động niệm, hay bình thường, không hình tướng, dục, sắc, vô sắc cũng đều không dính chấp vào đó.
8. Vô vi không: Pháp vô vi từ hữu vi mà hình thành, cho nên hữu vi không thì vô vi cũng không , tất cả đều theo hệ Bát nhã cả.
9. Tất cánh không: Cái không cao tột, cứu cánh của không, nếu còn một chút gì phân biệt vi tế, thì cũng đều mắc kẹt nơi đây. Vì tất cả đều không hết, để cuối cùng chấp cái không tột bậc, nếu có tột bậc thì có thấp có đối đãi, cũng nằm trong ý tưởng, cũng không dính vào nơi đây.
10. Vô tế không: Cái không này vượt tất cả thời gian, không gian, ý niệm cũng đều cho là không cả. Vì còn một chút đối đãi là đều không được. Trong cái không vô tế đó cũng không dính vào cái không này. Khi hành thiền sẽ thấy nó, nó sâu thẳm nhưng cũng còn có ý niệm, mà hệ Bát nhã là sạch hết, đến không còn Bát nhã nữa.
11. Tán không: Các pháp duyên hợp rồi tán ra chia chẽ ra, duyên hợp theo từng ý niệm, từng pháp. Nên khi tu cũng không bám vào một pháp, một ý niệm nào cả. Vì tất cả sẽ phân tán, không thể nắm bắt giữ được.
12. Vô biến dị không: Khi nhìn thấy các pháp là biến đổi, rồi chấp có cái không biến đổi. Nhưng khi có ý niệm đó tất duyên theo đó. Nếu đã duyên thì còn đối đãi, sự thật không có cái gì biến đổi, và biến đổi cả 2 cái đó đều không dính vào.
13. Bản tánh không: Khi tu có nhiều hành giả chấp vào sự vật của nó có bản tánh, ý niệm có bản tánh. Nhưng thực tế không có gì là nhất định cả. Vì nếu nứoc lửa có bản tánh nòng và lạnh ướt, nhưng với một người đi vào thiền định tu học, thì nước kia không nhấn chìm được, lửa kia không đốt cháy được. Vì không có họ và ý niệm cũng không, thì đối với những hành giả như vậy thì bản tánh của nước lửa đều khong.
14. Tự tướng không: Tự tướng tức là tướng có riêng từng pháp ý niệm riêng. Như tạm lập ra tự tướng thanh tịnh, chỉ giả lập thôi chứ tướng nào thanh tịnh. Đã có tướng có ý niệm, thì không có thanh tịnh, hãy nhẹ nhàng ngay đây xả luôn tự tướng không.
15. Cộng tướng không: Cộng tướng duyên hợp tất cả là có nhiều tướng cộng lại để hình thành, như nhà cửa, cái bàn con người...Nhưng khi bỏ, phân ra từng tướng, thì không có cái tướng nhà, con người, cái bàn ở đó...Cho nên cộng tướng cũng không dính vào.
16. Nhất thiết pháp không: Vạn pháp đều duyên hợp, cho nên gọi là không, do nhân duyên, duyên hợp mà hình thành. Cho nên không thực thể của nó, cho nên nó không, mà không có cái biết đó nữa
17. Bất khả đắc không: Không còn một ý niệm, sự rung động gợn lên của tâm, về cái không đắc ấy.

18. Vô tánh không: Khi nhìn thấy các pháp là duyên hợp giả có không, rồi thì ngay nơi đó cũng không chấp cái ý niệm không đó. Nếu dính vào ý niệm không đó thì cái không tánh đó liền biến thành tánh ngay. Ngay đây thuộc về tưởng. Ngay nơi đây biết như trên liền có thể hiện Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, lấy thần chú này để dần dần nhoá đi tưởng biết tự thể nhập.
19. Tự tánh không: Khi chúng ta buông tất cả pháp để về với tự tánh. Ngay nơi đó thấy tự tánh, biết đó là tự tánh thì không phải tự tánh, tinh thần của Bát nhã là xả bỏ tất cả sạch sẽ. Nhưng ở những pháp tu chúng ta vừa nhìn thấy qua bài viết trên làm sao để quét sạch. Đó mới là việc lớn. Ngay đây rất khó, ở pháp tu Mật chú Chuẩn đề, khi thể hiện đến ngay Bát nhã, nhưng không thể dùng pháp nào, mà cũng không thể không dùng pháp nào để vào, tất cả đều là ý niệm tàng trong tâm ta. Ngay đây người tu mật chú Chuẩn Đề dùng bài ca. Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, như đứa trẻ thơ hồn nhiên hát trong an lạc. Để cuối cùng đứa bé đó thảnh thơi trong vô thức ngủ, miệng nở nụ cười.
20. Vô tánh tự tánh không: Nhưng trong vô thức nụ cười đó, đứa trẻ ngay nơi đó không có mình nơi đó, không có ý niệm. Thì tự tánh vô tánh cũng không ý nghĩa gì, nhưng thật lạ đứa trẻ đó vẫn nụ cười an lạc.

Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm
Bát Nhã Ba La Mật Đa Thời, Chiếu Kiến Ngũ Uẩn Giai Không ...





PHẨM 44




Chánh văn:


Tâm Thị Căn, Pháp Thị Trần,
Lưỡng Chủng Do Như Cảnh Thương Ngân.
Ngân Cấu Tân Trừ Quang Thỉ Hiện
Tâm Pháp Song Vong Tánh Tức Chân

Dịch:

Tâm Là Căn, Pháp Ấy Trần
Cả Hai Như Vết Đóng Trên Gương.
Vết Nhưo Trừ Sạch Ánh Sáng Hiện
Tâm Pháp Cùng Quên Tánh Tức Chân.


Ở đây sư Huyền Giác nói tâm là căn, pháp là trần. Mà tâm là sao? Đức Lục tổ Hụê Năng định nghĩa tâm: “ Có cả thảy sự vật là tâm, ly cả thảy sự việc là tánh”. Có cả thảy sự vật là vì mượn nói cái tâm hay sinh ra cả thảy pháp, pháp nào, niệm nào cũng từ tâm ấy sinh. Mà pháp nào là trần là tất cả sự duyên, ý niệm, sự vật. Tâm ấy sinh ra là do sự vật pháp, cho nên Ngài gọi là pháp trần. Khi ta đã tỉnh giác nhìn thấy như vậy rồi thì hãy quán soi từng sự vật, pháp, ý niệm. Tất cả chúng cũng chỉ là duyên hợp mà có thôi. Do nhiều thứ hợp thành một huyễn tướng, nó không có thật thể, cho nên gọi là không. Từ các tướng chúng là duyên hợp, cho nên cũng chỉ là pháp tạm bợ không thật có, do những sự vọng tưởng không thật mà thành hình, nên ngài Huyền Giác gọi là :

Cả Hai Như Vết Đóng Trên Gương
Vết Nhơ Trừ Sạch Ánh Sáng Hiện,
Tâm Pháp Cùng Quên Tánh Tức Chân.


Do sự duyên hợp vọng tưởng giả có nên cũng là những vết nhơ trên gương, Ngài vì cái tánh thanh tịnh của mình như thể của gương. Mà thể của gương thì không phải những hình ảnh dài, ngắn, đen, đỏ...trên gương mà cũng không phải là cái gương. Nó không hình tướng gì cả, nhưng nó chuyên chở ở trên những hình ảnh vạn pháp, ý niệm trên gương. Từ đó nếu làm mất tất những hình ảnh trên gương, thì thể của gương sẽ sáng ra. Cái tâm tánh của con người cũng vậy, cái hình ảnh, ý niệm, vạn pháp thấy có đến đi, có người có ta là do sự phân biệt vọng niệm. Chứ thật thể ý niệm, bản thể vi diệu sáng toả, thì không một vật dính trên đó. Mặc dù không hình tướng, nhưng nó che chở chuyên chở vạn vật, vạn pháp. Cũng như hư không rộng lớn trên. Vạn sự vạn vật ý niệm rất nhiều vô số kể, nhưng đâu có che bít được hư không. Nó không có hình tướng, nhưng khi mỗi niệm lặng mất, thì hư không hiển bày. Rồi bỏ hư không kia ra nữa, thì lý hư không hiển bày. Bỏ luôn lý hư không đó nữa, bỏ luôn cái tánh bỏ đó nữa, thì ai ở đó để bỏ và nhận hư không kia.

Hiểu như vậy để bỏ nhoà cái hiểu biết đó. Hãy an lạc Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.

Liệu hạt sương có cảm thấy hay kinh nghiệm sự sống động nào đó bên trong không, khi lần đầu tiên nó tan vào trong đại Dương?

PHẨM 45



Chánh văn:

Ta Mạt Pháp, Ác Thời Thế
Chúng Sinh Phước Bạc Nan Điều Chế
Khứ Thánh Viễn Hề Tà Kiến Thâm
Ma Cường Pháp Nhược Đa Oán Hại,
Văn Kiến Như Lai Đốn Giáo Môn,
Hận Bất Diệt Trừ Như Ngoã Toái.

Dịch:

Ôi! Mạt Pháp, Đời Ác Trược,
Chúng Sinh Phước Mỏng Khó Điều Phục.
Các Thánh Xa Chứ Tà Kiến Sâu,
Ma Mạnh Pháp Yếu Nhiều Thù Ghét,
Nghe Môn Đốn Giáo Của Như Lai,
Hận Chẳng Diệt Tan Như Ngói Nát.


Bài này đức Huyền Giác nói lên thời nay người tu hành phước mỏng, sống theo tình thức nhiều, nhiều ngã chấp, pháp chấp. Mỗi người, mỗi nơi ai cũng cho mình la hay là giỏi, tranh chấp nhau đủ điều, suy toán đủ điều tâm luôn vọng động. Nếu ngay nơi tâm mình còn hơn thua, thì đâu phải là chánh pháp trong đó.

Ngay bài này, cũng mong rằng, những người tu phật chúng ta, hãy cùng tỉnh giác lại, để quay trở lại với tự tánh thanh tịnh của mình. Tự tánh đó không bao giờ mất cũng chưa từng có, cho nên nó không có mạt pháp bao giờ. Mạt pháp hay suy đồi phật pháp là do chúng ta chạy theo bên ngoài sự vọng tưởng, cứ mãi chạy theo hư danh, giả tướng. Hôm nay cho rằng mình là đấng này, ông kia...Họ quên rằng, khi có tướng danh nó sẽ hoại đi, nó không có thường trụ chân thật được. Bời vì danh tướng kia cũng do nhiều người đặt để cấu tạo nên từ hình danh sắc tướng rồi cùng đặt cho nó là này kia. Nó chỉ là giả hợp không thật thể. Nhưng ở ngay đây chúng ta cho nó là thật thể, dùng mọi điều, mọi mưu lược vọng tưởng để xây dựng nó, có được nó rồi cũng trong chốc lát, cũng biến mất để tiếp tục nhường chỗ cho sự vọng tưởng trùng trùng duyên khởi lên nhau. Bỗng chốc đi ta đã già, bệnh rồi chết. Cái chết trong đau đớn, điên loạn đó là cái quả do chúng ta tạo. Còn mạnh còn sáng suốt gieo cái nhân, gây những thọ cảm xúc đủ mọi khía cạnh. Khi gần chết tứ đại phân tranh cũng những thọ cảm xúc tưởng kia trở lại hoành hành thân ta. Ngày xưa đạt thành có vui có thọ cảm, khi mất cũng có thọ cảm. Những tướng thọ cảm đó chúng cũng không khác , nhưng do sự phân biệt giả định của chúng ta mà ra, thành ra khổ; sắc, thọ, tưởng, hành, thức ngũ uẩn xí thạnh khổ.Mỗi cái đó nó cứ tăng lên nhiều, cứ đòi hỏi mãi, mà cứ đáp ứng chạy theo nó mãi thì biết đời nào mới tự do, tự tại.

Ngay đời này chúng ta thường tu trên hình danh sắc tướng, nghe nhiều người thầy giảng dạy, khi nghe người này dạy tâm tự vọng, tưởng tượng lên cái đó là lý không, lý tánh chớ thật tế chúng ta chưa có tỉnh giác tự tu để tỉnh ngộ cái đó. Tự tánh thanh tịnh đã có sẵn đừng lấy cái này bỏ cái kia. Những tri thức trong đầu chúng ta đều là hình danh sắc tướng cả. Nhưng mỗi mỗi niệm loé lên thường được cái biết đó nó chuyên chở. Ta cũng như hư không có sẵn, vạn vật cứ biến chuyển. Vạn vật biến chuyển, nhưng tánh hư không ấy vẫn hằng có.

Ở đây lý luận này rất nhiều người nói, nhiều người hiểu. Ở đây ngay bài này chúng ta nói có cái thực tế của tánh không đó. Có nghĩa là. Khi thấy biết rõ nó rồi, cái biết rõ đó ở đâu cũng có cả, ở niệm đau khổ cũng có, ở niệm sung sướng an lạc cũng có nó đều đồng. Nó không có sở một thời gian nào, không gian nào cả. Vì chỗ nào cũng có cái đó, thì không bị ngăn ngại.

Chúng ta thấy như vậy rồi, biết lý nó như vậy, nhưng rất khhó hoà tan nó. Nhiều khi do sự tưởng cảm lý đó mà hiện thành ý niệm chứng có trong tâm ta. Tự thấy cảm chứng được nó. Nếu chúng ta cảm chứng nó như vậy, thì chỉ là cái bóng lý tánh đó thôi. Ngay đây đừng suy tính già cả - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm






Cư Sĩ Thanh Hùng
Pháp Hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 03:04:25(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#39 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1703 lần trong 345 bài viết
PHẨM 46


Chánh văn:

Tác Tại Tâm, Ương Tại Thân,
Bất Tu Oan tố Cánh Vưu Nhân.
Dục Đắc Bất Chiên Vô Gián Nghiệp,
Mạc Báng Như Lai Chánh Pháp Luân



Dịch:

Làm Tại Thân, Ương Ở Thân,
Thôi Chớ Trách Người Với Kêu Oan,
Muốn Được Khỏi Mang Vô Gián Nghiệp,
Thì Chớ Chê Bai Chánh Pháp Luân.



Ngay nơi mục này, ngài Huyền Giác nói là những việc làm của mình do tâm suy tính tạo tác mà nên. Nếu trong việc làm của mình xấu thì sẽ gặt quả xấu, làm thiện thì được quả tốt an lành. Mọi điều là do nhân quả cả. Khi chúng ta làm thì phải gánh chịu đừng có thân thân trách phân gì. Những việc làm và những hậu quả đó không có ai đem đến cho mình cả, chỉ do chính mình mà ra.

Ngài răn dạy chúng ta nên tỉnh giác mà tu học, đừng vì một việc gì đó mà đành huỷ hoại chánh pháp, khinh chê phật pháp mà tổn hại đến thân tâm phải đoạ vào địa ngục vô gián chịu khổ.

Nhân bài này tôi xin nói lên vài ý niệm. Ở diễn đàn tâm mật, pháp tu là Mật chú Chuẩn Đề trong đó có Ngũ bộ chú, cùng Uế tích Kim cang. Trên diễn đàn có những chương mục của quí đạo tâm người ta chuyên tu, nhẫn nại chịu mọi điều khó khăn để tu học. Người hành giả đó có đạt được những mặt lợi ích đem đến lợi lạc bản thân cùng gia đình xã hội. Qua những bài viết của vị ấy có người thấy hay thấy hợp với ý mình cũng thích tu theo pháp môn này. Trong số đó cũng có một số người đạt thành lợi ích và cũng có một số không đạt được, vì sự tu nó phải do sự thật tín tâm, kiên nhẫn tu trì. Và nó cũng ảnh hưởng đến những phước báu lâu đời nhiều kiếp của một con người. Cho nên có người đạt thành sớm, có người không. Có người họ không tiếp tục tu theo mật pháp họ lặng lẽ ra đi để tìm một pháp môn khác, điều đó thì cũng tốt bởi vì căn duyên họ không phù hợp. Nhưng ở đây muốn nói lên một số người khi vào đây họ luôn tham tượng lúc nào cũng muốn cầu cho nhanh đạt, để đem cái đạt thành đó phục vụ cho cá nhân gia đình họ. Nhưng với tâm tham vọng đó thì đâu có đạt được. Vì tất cả giáp pháp của Đức Phật đều nằm trên sự thanh tịnh, định tĩnh, xoá đi tam độc tham, sân, si. Mà những người như thế đó lại đi ngược lại. Thử hỏi có đạt được khong, không bao giờ đạt được và cũng có những con người khi vào tu mật pháp này ở xã hội họ làm ăn, hoặc cuộc sống của họ tạo tác đầy dẫy nghiệp ác. Khi thấy sự nghiệp bông lung, nghiệp khổ bệnh tật nghèo khổ đến họ nhảy vào nhận trong thời gian ngắn, tâm họ cũng không định tâm được do sự loạn tưởng điên d dào của sự thất bại, đau thương gây ra tâm bấn loạn. Bản thân tâm cũng khó trì chú, hàng ngày chỉ ú ớ vài 3 câu lõm bõm. Vậy mà vọng tưởng tham vọng muốn đạt thành. Khi không đạt thành thì ngay lúc đó sanh tâm chia bè lập phái xuyên tạc nói xấu phật pháp, nói xấu mật chú Chuẩn đề. Những linh phù, những câu chú khi họ thọ nhận đều có những ấn chứng nhất định chứng tỏ rằng ngay giờ phút đó có chư vị, một năng lực huyền linh đã chứng cho họ, để họ biết rằng thần chú đó, linh phù đó có đầy đủ năng lực rõ ràng như Đức Phật đã nói. Nhưng khi về với tâm loạn động như thế đó không thể thành tựu thêm được nữa. Nghiệp đổ, thì ngay lúc đó đổ thừa là thần chú gây ra, thật là vô minh. Khi lòng tham cầu không đạt được, thì nóng giận buông ra những lời huỷ báng mật chú cho thoả lòng. Nhưng những điều đó không bao giờ mất trong tâm của bạn, nó sẽ theo mình hết kiếp này đến rất nhiều kiếp khi duyên đến, hình ảnh đốt linh phù, cùng những lời huỷ báng mật chú kia nó hiện về, nó không bao giờ mất cả.

Ví như khi chúng ta ngồi uống nước nói chuyện. Những câu chuyện tình tiết có khác, có thiện có ác. Xong buổi uống nước đó cùng những hình ảnh lời nói đó nó đã mất, nhưng thật tế nó không bao giờ mất. Khi một duyên nào đó nó có một không gian, thời gian, con người giống như buổi uống nước đó, thì những hình ảnh đốt linh phù, những lời huỷ báng đó hiện về. Và khi thân tứ đại này suy yếu, lúc ta bị bệnh tật, não suy thì những cảm giác sợ sệt loạn tưởng sẽ nổi lên thể hiện lên, làm cho con người gây tội đó tưởng tượng đến ma quỉ, đến não hại mình do tội đốt linh phù, huỷ hoại mật pháp trên. Cái địa ngục đó nó nằm ngay trong chính tâm mình.

Khi tôi viết những ý niệm này, những ai trước đã làm như vậy hãy mau mau sám hối lại. Vì mật chú, phật pháp không bao giờ hại con người, hại chúng sinh cả. Tất cả tội chướng nhơ sạch đều do con người. Mật chú Phật pháp chỉ đem lợi lạc an lành giải thoát cho chúng sinh thôi.


Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm

PHẨM 47



Chánh văn:

Chiên Đàn Lâm Vô Tạp Thụ,
Uất Mật Sâm Trầm Sư Tử Trú.
Cảnh Tịnh Lâm Nhàn Độc Tự Du,
Tẩu Thú Phi Cầm Giai Viễn Khứ.


Dịch:

Rừng Chiên Đàn Không Cây Tạp
Sư Tử Trú Sâu Đầy Rậm Rạp
Cảnh Vắng Rừng Yên Tự Dạo Chơi
Thú Chạy Chim Bay Xa Mất Hút



Bài này đức Huyền Giác nói thật rõ ràng, rừng Chiên Đàn thì không có một loại cây tạp nhỏ trong đó cả. Cũng như tâm thanh tịnh của Bồ tát, thì không còn một tạp nhiễm nào vướng víu trong đó. Một mình trong đó mặc tới lui tâm không vướng bận. Nơi thanh tịnh rỗng rang đó mặc tự do dạo chơi. : “ Thú chạy chim bay xa mất hút” - Thú và chim do vọng tưởng đó bay mất hút.

Một mình thong thả dạo chơi
Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm
Sương rơi trắng
Hoa vẫn rụng, tiếng hét, mưa rơi, mây bay, sáng toả, một nụ cười, gió reo, dòng suối chảy, luỹ tre xanh, đoá hoa đang nở.



PHẨM 48



Chánh văn:


Sư Tử Nhí Chúng Tuỳ Hậu,
Tam Tuế Tiện Năng Đại Hao Hống.
Nhược Thị Dã Can Trục Pháp Vương,
Bách Niên Yêu Quái Hư Khai Khẩu.



Dịch:


Sư Tử Con Chúng Theo Sau,
Ba Tuổi Rống Lên Khoẻ Biết Bao.
Dã Can Dù Bám Sát Pháp Vương.
Trăm Năm Quái Gở Mở Miệng Khào


Đây nói đến Sư tử con là dẫn dụ cho những vị Bồ tát con của Phật. Đi phía sau lưng của Đức Phật. Mặc dù chỉ có 3 tuổi thôi, nhưng tiếng rống vẫn khoẻ, cao xa, mang tính dũng mãnh của loài sư tử, mang đầy tính phật pháp kế thừa chư Phật. Họ ở trong hoàn cảnh nào, khía cạnh nào cũng luôn thể hiện sự kính tin dũng mãnh đến phật pháp, luôn rống lên những lời siêu thoát rộng lớn, không sợ hãi.

Giống Sư tử là vậy. Còn loài Dã can dù cho bám chặt lấy Đức Phật, trải qua trăm năm cũng chỉ kêu tiếng của Dã can thôi. Không thể bắt chước tiếng Sư tử được. Ở đây cũng thầm nói đến sự chứng ngộ. Nếu chúng ta chưa chứng ngộ, thì dẫu có hỏi, có nhìn cách đi đứng, cách nói của Chư vị Thiền sư cũng không giống được. Vì đạo luôn đứng trên lẽ chân thật.

Khai được một mảnh ruộng,
Gieo được một thúng lúa.
Soi đầu vừa nhìn lại,
Núi xanh nước lại biếc.
Trọn ngày ăn một bữa
Cuối đêm chỉ một giấc
Mệt thì duỗi chân ngủ
Ngàn đủ cùng muôn đủ
Tiết tháng tám, tháng chín sắp đến,
Bên rào hoa cúc nở vàng tươi.

Quy Ngưỡng Ngũ Lục


Như vậy ở đây, người tu mật chú Chuẩn Đề , Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, cũng khai được miếng ruộng Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Gieo giống cũng Chuẩn Đề. Cứ như vậy soi đầu quay lại núi xanh, nước biếc cũng “Như vậy”. Ăn cũng một bữa ăn Chuẩn đề, trong bữa ăn vẫn Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Ngủ cũng giấc ấy.

Xuân thu vạn hữu hoa Chuẩn Đề vẫn nở.
Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm





Cư Sĩ Thanh Hùng
Pháp Hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 03:06:15(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
phaolon  
#40 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
phaolon

Danh hiệu: Newbie

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 0

Được cảm ơn: 1 lần trong 1 bài viết
cảm ơn thầy công đức vô lượng
nam mô công đức lâm bồ tát
úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha bộ lâm
Ai đang xem chủ đề này?
Guest (14)
3 Trang<123>
Di chuyển  
Bạn không thể tạo chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bạn không thể trả lời chủ đề trong diễn đàn này.
Bạn không thể xóa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể sửa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể tạo bình chọn trong diễn đàn này.
Bạn không thể bỏ phiếu bình chọn trong diễn đàn này.