Thông báo

Icon
Error

3 Trang123>
Tùy chọn
Xem bài viết cuối Go to first unread
ThanhHung  
#1 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết
THIỀN QUÁN MẬT CHÚ CHUẨN ĐỀ QUA CHỨNG ĐẠO CA


UserPostedImage




Lời Nói Đầu


Trong phương pháp tu Mật chú Chuẩn đề, người hành giả phải kết hợp với Thiền Tông (Hiển giáo). Hai pháp môn này phải là một vì phải đạt được hiển mật viên thông tâm yếu mới thành Phật. Người hành giả phải thấy tánh tâm của mình. Phải biết thân tướng của mình là do duyên hợp lại giả có. Đó là thân tướng, còn về mặt tâm thức, người hành giả cũng phải hiểu ngộ nhìn thấy những niệm lăng xăng trong tâm ta, trong tư tưởng của ta. Phải nhìn thấy tất cả các tướng, vạn pháp bằng sự chân thật của mình. Sống một đời sống tu hành chân thật, lấy những niệm tưởng lăng xăng khổ đau thành những phương tiện tu hành để đưa con người thoát khổ, có cuộc sống chân hạnh phúc.

Để đạt những điều trên, hôm nay, với tấm lòng chân thật của mình, xin thể hiện Mật chú Chuẩn đề qua lời dạy của người xưa, chân thành thể hiện Chứng Đạo Ca qua Mật Chú Chuẩn đề.

Tác phẩm Chứng Đạo Ca là một tác phẩm ghi lại những lý sự viên dung chứng đạo của Thiền sư Huyền Giác là một tác phẩm rất hay đem lại lợi ích rất nhiều cho nhân loại.

Thiền sư Huyền giác sinh năm 665 (TL), tịch năm 713 (TL). Tác phẩm Chứng Đạo Ca này và thân thế của Ngài Huyền Giác đã có rất nhiều vị đã nói ra. Nay ở đây chỉ dẫn giải sơ lược mà thôi. Ở đây, chỉ ghi lại lời người xưa để thể hiện qua pháp tu Hiển mật Viên Thông (Pháp tu Chuẩn đề). Để giảm bớt những phần văn tự, tạo những tư tưởng đơn giản, gọn nhẹ nhằm để người hành giả dễ thể hiện pháp tu. Mong quí đạo tâm hoan hỉ, an lạc!


PHẨM I


Chánh Văn

Quân bất kiến!
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân
Bất trừ vọng tưởng bất cầu chơn
Vô minh thực tánh tức phật tánh
Huyễn hóa không thân tức pháp thân


Dịch Nghĩa
Anh thấy chăng!
Tuyệt học vô vi đạo nhân nhàn
Chẳng trừ vọng tưởng chẳng cầu chân
Tánh thực vô minh tức phật tánh
Thân không huyễn hóa tức pháp thân.


Mở đầu bài chứng đạo ca Ngài Huyền Giác đã chỉ ngay tức khắc. Ngài rất từ bi đã thể hiện, chỉ rất rõ ràng. Ngoài những hình danh sắc tướng ngay tức khắc trong câu “Anh thấy chăng”, ngài muốn ta trực chỉ, trực ngay chỗ đó là cái sự biết không nhiễm ô một trần nào cả. Cũng như những vị Thiền sư ngày xưa, khi có một vị Thiền giả nào đến hỏi đạo, các ngài chỉ dùng một chữ chỉ, hay đánh, la hét để nhằm chỉ ngay chỗ đó. Chỉ có ba câu thôi “Anh thấy chăng!”, ngài đã chỉ thật rõ ngay đây. Nó không qua một thứ lớp nào cả, không để cho người “Tâm” kịp sinh nở. Ngay câu “Anh Thấy Chăng” ta trực nhận ngay đây thì ly tất cả những phân biệt. Vì không kịp phân biệt sinh tâm, không kịp suy nghĩ một điều nào cả. Ngay đó, ngài hỏi rất chân thật. Vừa hỏi, vừa chỉ cái thường biết không sinh diệt ngay đó.

Đây là một cái lý nói về sự thường biết, vô chấp. Cho nên, người hành giả nên “Biết” cái biết không sinh diệt trên bằng cách khi biết rồi hãy thoải mái với cái biết đó, đừng suy nghĩ rằng ta đã biết. Ngay đây, nói trên mặt văn tự thì rất hay, rất dễ nhưng khi vào tu thì phải tĩnh tâm, nhẹ nhàng, thoải mái, tỉnh giác để nhìn thấy nó. Cho nên, ở đây, hướng dẫn quí đạo hữu nên kết hợp với Mật chú Chuẩn đề “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”.

Khi người hành giả đã giải được “ngộ lý” trên thì cứ một mực miệt mài, chuyên niệm “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”, vì Thần chú này nó cũng không có nghĩa gì đề người hành giả phân biệt. Và chỉ một mạch niệm có một câu thôi. Nó dễ đưa đền chỗ tỉnh giác. Khi người hành giả chuyên tu như vậy, cứ niệm như vậy đến một lúc tự nhiên không còn chấp là ta đang thực hành phép niệm. Sự khó khăn cực nhọc đã được hòa tan với “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Bắt đầu sự huân tập đó đã thuần thục, người hành giả không còn niệm nữa nhưng nó vẫn niệm. Và không còn thấy trật, trúng trong âm của Thần chú. Có khi người hành giả đếm 1, 2, 3 hay nói một câu gì đó không phải là thần chú Chuẩn đề nhưng vẫn biết đó là “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”.

Ngay đây, người hành giả nên thoải mái cứ cho những niệm tưởng thoải mái, cứ tự do thể hiện. Nhưng mà tâm vẫn thường biết Thần chú Chuẩn đề vang lên trong những niệm tưởng đó.

Tuyệt học vô vi đạo nhân nhàn
Chẳng trừ vọng tưởng, chẳng cầu chân
Tánh thật vô minh, tức Phật tánh
Thân không huyễn hóa tức pháp thân


Người hành giả thường biết như vậy thì tất cả các tưởng vọng tướng cùng chơn đều là hư danh, giả tướng thôi. Từ đó mới có tánh không huyễn hóa, không nặng nhọc ở hai bên thiện ác, vô minh, chơn vọng.

Người hành giả tu mật chú Chuẩn đề, các tướng cũng không còn có thiện ác, hư vọng, chơn giả. Mỗi mỗi niệm tưởng đều là giác niệm “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Hằng ngày, hằng giờ, từng phút, từng giây, những hoa đớm, những niệm tưởng đó nó sẽ niệm Thần chú Chuẩn đề cho người hành giả. Lúc đó cái thường biết là chân thần chú, là tâm chú của Đức Phật Mẫu Chuẩn đề.

Ngay đây, người hành giả đâu còn chỗ tu nữa. Vì không còn “Trừ vọng tưởng, cũng không còn cầu chân tánh thật của sự vô minh” nó cũng như Phật tánh. Ngay chỗ đó là chỗ chơn niệm Thần chú Chuẩn đề. Trước ngay chỗ khởi niệm một vấn đề, một niệm nào đó đã có sự biết “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Cái sự biết “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm” cũng hòa tan trong cái thường biết đó.


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp Hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 18/03/2016 lúc 09:20:39(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 3 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày, cuiyang07 trên 18-03-2016(UTC) ngày, Huyền Mai trên 04-11-2016(UTC) ngày
ThanhHung  
#2 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết

PHẨM 2






Trong thời gian vừa qua, Diễn đàn Tâm mật lần lượt từng bước đi vào sựn tu học miên mật. Mặc dù, thành viên không mấy đông đúc, năng lực, cấp độ tư tưởng khác nhau. Để có sự chuyên tu thuần thục, diễn đàn Tâm mật sẽ lấy “Bát Nhã Tâm Kinh qua Mật chú Chuẫn Đề” đi đúng theo con đường Phật đạo, hiển mật viên thông. Lấy Thiền Mật là con đường đi vào “Biển tánh”. Mặc dù, Tâm Mật chỉ là những con người tu học theo hạnh cư sĩ nhưng luôn luôn thể hiện tánh giác. Lấy trí huệ bát nhã quán soi, thực hiện Phật đạo trở về với chân niệm Tâm chú của Phật Mẫu Chuẩn Đề.

Diễn đàn Tâm Mật sẽ thể hiện Mật chú Chuẩn Đề qua những tác phẩm kinh luận của Chư Phật, Tổ. Trí huệ, tâm hạnh của Tâm mật cũng còn yếu kém nhưng mang tâm nguyện lớn. Mong chư Phật, Tổ, Chư bố tát gia hộ năng lực cho Tâm Mật liễu sáng quang minh, thể hiện bi nguyện, trí huệ siêu thoát như đóa sen trong bùn nhơ mà vẫn tỏa ngát hương.

Để thể hiện bi nguyện, hôm nay, xin tạm mượn văn tự thể hiện Mật chú Chuẩn Đề qua tác phẩm Chứng Đạo Ca. Lần trước đã viết lên phần đầu, nay tiếp tục lần lượt sẽ thể hiện hết tác phẩm Chứng đạo ca. Đây cũng là một loại tư tưởng nhỏ bé của tôi, viết với sự chân thật của chính mình hầu giúp chia sẻ với những ai hữu duyên với điều chân thật đó.

Phần Chánh Văn:

Pháp thân giác liễu vô nhất vật
Bổn nguyện tự tánh thiên chân Phật
Ngũ ấm, phù vân không khứ lai
Tam độc, thủy bào hư xuất một


Dịch:

Pháp thân giác rồi không một vật
Sẵn nguồn tự tánh thiên chân phật
Năm ấm, mây trôi qua lại suông
Ba độc, bọt nổi luống không mất




Pháp thân giác liễu vô nhất vật
Bổn nguyện tự tánh thiên chân Phật

Ở đây, nói “Pháp Thân Giác Rồi Không Một Vật”, vậy chứ “Pháp Thân là cái gì?” Nói đến Pháp Thân thì ngay chỗ đó không còn cái gì cả. Không một vật, bặt tất cả những suy nghĩ, không còn sự phân biệt, không ta, không người, không vật. Người hành giả tu trì một thời gian qua rồi đến một lúc họ tự rủ bỏ tất cả những gì trong tâm thức họ, rũ bỏ tất cả vạn pháp, ngã và sở. Họ đã đi vào sự huân tập trí huệ sâu kín. Họ tự hiểu, tự quán soi các tướng, các pháp đều do sự giả hợp, giả có tạo nên giả danh. Khi quán soi như vậy rồi, đến lúc đó, người hành giả bắt đầu thể nhập cái biết hằng có. Cái biết này ở khắp mọi nơi, mọi khía cạnh. Biết mà không phân biệt, tự nhiên như nhiên. Tùy duyên mà hóa độ. Niệm giận lên mình cũng biết, niệm vui cũng biết. Tất cả những niệm tưởng cùng sự vật đến đi đều biết cả nhưng không phân biệt. Không phân biệt thì sắc đâu có cản trở. Khi thấy hoa hồng rồi phân biện hoa tốt, xấu thì ngay chỗ đó sắc tướng của hoa sẽ hình thành che bít, cản trở, chấp cứng chỗ đó. Thọ cũng vậy, khi đã phân biệt hoa tốt xấu rồi thì nảy sanh ra yêu ghét. Yêu thì muốn giữ, ghét thì muốn bỏ, cảm thọ tạo nên tướng cảm xúc che đậy giác trí, khiến ta bị nhốt, bị giữ lại ngay đó. Rồi cũng ngay đó, tham, sân, si sẽ nổi dậy, ba độc hình thành.

Chỉ có một cánh hoa thôi mà thế giới, vũ trụ hình thành. Một cánh hoa thôi mà ta phân biệt như trên thì thiên biến, vạn hóa, ngũ ấm sẽ hình thành. Như trên, sắc, thọ đã hình thành. Khi sắc, thọ hình thành rồi thì “Tưởng” sẽ tiếp nối. Tưởng tưởng phân biệt, đối đãi, so sánh, cánh hoa này xấu hơn cánh hoa kia. Hoa này mau tàn, hoa này tươi tốt, từng diễn biến sẽ hình thành các tướng. Đem hình ảnh quá khứ đến so sánh hình ảnh hiện tại, mơ ước, chói bỏ hình ảnh vị lai. Và từ đó, tham, sân, si, Tam độc cũng hình thành. Đã hình thành như vậy rồi thì niệm tưởng lăng xăng sinh diệt trùng trùng niệm niệm sinh diệt. Ngay đó, “Hành” sẽ hành thành. Qua những niệm tưởng sinh diệt đó sanh ra tham, sân, si. Sắc, thọ, tưởng, hành, các tướng, các pháp hình thành để hình thành vọng tưởng, vọng nghiệp. Ngay đó, thức sự phân biệt hiện hữu, hình danh sắc tướng, thế giới hình thành. “Vạn vật Duy Tâm, Vạn Pháp duy Thức”. Người hành giả tu hành, dung trí huệ bát nhã soi thấu vạn vật, vạn pháp như thế đó. Từ đó, họ tỉnh giác. Cái chơn biết, hằng biết sẽ hình thành nên cái “Đại ngã” pháp thân vô biên. Cái biết đại ngã pháp thân đó, không có một vật nào là không có trong đó, có đủ tất cả gòi là “Viên Giác” tròn đầy. Và cũng không có một vật nào trong đó cả, vì tất cả chỉ là một vô ngã. Mà pháp thân đại ngã này nó cũng sẵn có tự bao giờ.

Khi người hành giả biết ngũ ấm Sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì ngay lúc đó nó không đá động gì đến cả. Mọi vấn đề đều hóa giải, thể nhập vào cái hằng biết cà. Cho nên nói:
“Năm ấm, mây trôi qua lại suông.
Ba độc, bọt nổi luông còn mất”.

Hòa nhập vào cái hằng biết thì không còn ngã, ngũ ấm không có tướng, không có người, không ta, không năng, không sở thì ba độc cũng không còn. Chúng ta đã thấy nó chỉ là duyên hợp cả, chỉ là bọt nổi, mây trôi thì ngay đó tự tánh thấy hằng biết đã thể nhập. Ba độc, ngũ ấm không còn hại ta nữa. Cũng ngay nơi ấm đó, ngay nơi độc đó mà ta trở về thể nhập. Không có ba độc, ngũ ấm nào khác cả. Đây là một tác phẩm Chứng đạo ca, là một thể sống chân thật, tự tánh giác hằng có của mình chứ không phải học chứng đạo ca là để biện tài, lý luận theo văn tự. Vì văn tự không thể nói lên những điều chân thật trên.

Diễn đàn Tâm mật hôm nay, học Chứng đạo ca cũng vậy. Khi học là tự mọi người hãy lắng lòng, tỉnh giác, buông bỏ, nhìn thấy từng vọng niệm lăng xăng trong đời sống mình. Nó chỉ là duyên hợp, giả tướng, không thật thể. Buông xuống như vậy cũng như một người bình vị, sống an lạc đạo, chỉ nhận ở nơi mình “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Trong từng giờ phút chỉ biết “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Lâu ngày huân tập như thế cái biết “Úm chiết lệ Chủ lệ Chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm” sẽ thuần thục và từ từ nó sẽ hòa nhập, tan biến trong những vọn g niệm. Khi những vọng niệm lăng xăng nổi lên thì cái biết Thần chú Chuẩn đề sẽ hiện lên. Cái biết đó nó không phân biệt niệm ấy là xấu, là tốt, là không, là có, cũng không phân biệt. Năng sở thì lúc đó cái biết hằng có tánh giác tánh giác thể hiện. Khi đó, cái biết đó cũng có không có biết là “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đ, ta bà ha. Bộ lâm” nữa. Vì ngay đây, mọi cái vọng niệm đều là “Úm chiết lệ chủ lệ Chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm” thì chỉ có một chơn niệm đó thôi chính thật các pháp là “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm” (Có cả thảy sự vật là Tâm). Và ngay đó, không có niệm nào khác hơn “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm” Mọi vấn đề, mọi giác niệm, vọng niệm đều là Thần chú cả. Đây là “ly tất cả pháp là tánh”. Ở đây mọi pháp không đá động gì đến ta cả. Vì ta là cái hằng biết đó. Ngay đây có đủ: Thường, lạc, ngã tịnh. Phẩm này nên tỉnh giác tu học sẽ giúp chúng ta lợi ích rất nhiều.

Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 09:34:28(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 2 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày, Huyền Mai trên 04-11-2016(UTC) ngày
ThanhHung  
#3 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết
PHẨM 3





Chánh Văn:

Chứng thật vô tướng, vô nhân pháp
Sát na diệt khước A tỳ nghiệp
Nhược tướng vọng ngữ cuồng chúng sinh
Tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp



Dịch Nghĩa:

Chứng thật tướng, không nhân pháp
Sát na dứt sạch A tỳ nghiệp
Nếu đem lời vọng dối chúng sinh
Tội rút lưỡi tự mang trần kiếp





Trong giáo lý của Đức Phật thường hay nói đến sự duyên hợp, giả có, tất cả vạn sự, vạn vật đều là do sự duyên hợp mà hình thành. Rồi cũng có sự duyên hợp mà nó diệt. Ta thấy nó tan rã lan tỏa tưởng như là nó mất. Nhưng thật tế nó đang duyên hợp ở mọi hình thức khác nhau.

Trong tướng duyên hợp, giả có đó, mỗi cá nhân sự vật đều không có thật thể. Cho nên, đức phật bảo rằng “Không tướng”. Sự duyên hợp đó nó trùng trùng duyên khởi, mỗi cá nhân sự vật, sự kiện đều có một sự giả tạo, có một tác giả đạo diễn riêng. Nó hình thành nên muôn sắc màu khác nhau. Trong sự trùng trùng duyên khởi, giả hợp đó, ta đi đâu để tìm cái thật tướng nó đây. Khi bắt gặp nó mới gọi là sự chứng thật. Luôn cả sự chứng thật đó cũng do sự giả hợp mà ra. Vậy một lần nữa thật tướng ở đâu, là gì? Ngay đây Ngài Huyền giác bảo rằng: “Chứng thật tướng, không nhân pháp. Sát na dứt sạch A Tỳ Nghiệp”.

Trong cuộc sống, hằng ngày trong ta đều do sự tác tạo của nghiệp duyên mà có cả. Do chấp cái thật, có ngã của mình. Khi đã có sự chấp ngã như vậy thì có trong ngoài, ngã và ngã sở. Từ đó, thế giới tâm thức hình thành, thề giới vạn hữu thể hiện ra. Cả một Vũ trụ tâm linh cùng vạn vật, vạn pháp. Như vậy đó, đều do cái “Ngã chấp” của ta cả, mê mờ chấp thật có tất cả “Ngã sở”, có ta, có người. Thì ngay đó, sắc nó hình thành, che lấp. Từ đó, ta bị hạn chế bởi sắc ấm, mê mờ, chấp giữ khi chúng có danh xưng là đẹp, là tốt, thiện, vui. Mê mờ, chối bỏ chúng khi chúng có một biệt danh xưng là xấu, bất thiện, khổ não…Khi sắc ngã chúng ta mang nặng dính mắc vào cái hình danh sắc tướng đó rồi. Ngay đó, cảm thọ, tưởng uẩn thể hiện lên. Trong cái tốt nó sẽ giả tạo, đạo diễn nên những ảnh hiện, hình danh, kéo tất cả những cảm thọ, tưởng từ quá khứ về để đối chọi, so sánh, phân biệt, tham, chấp, tham cầu những cái tốt, cái thiện, si mê, những cái có cảm xúc thọ tưởng với mình. Nếu không được thì sân hận sẽ dẫy đầy. Ngược lại được thì si mê, vui vẻ, ngã chấp lẫy lừng. Một chuỗi dài vô tận chấp như thế trong quá khứ, hiện tại, vị lai làm cho trầm luân (Một sự luân chuyển vòng trong qua các vọng niệm, giả tướng trên).Những vọng niệm, ngã chấp trên khiến cho ta có “Giả tướng lẫy lừng nhân pháp” mang chúng ta đi trong khổ não.

Hôm nay, ngài Huyền giác đã chứng thật tướng, ngài đã thố lộ: “Chứng thật tướng, không nhân pháp”. Đó là đường đến sự an lành, chân hạnh phúc. Con đường đi đó, người hành giả phải biết tất cả những sự vật, vạn pháp, giả hợp như trên. Biết bằng sự quán soi trí bát nhã, nhìn thấy liễu ngộ sự giả hợp từ ngay cái “Ngã chấp” của mình đến “Ngã sở”, vạn sự vạn pháp không có thật thể. Khi người hành giả đã giải ngộ như vậy thì từng bước, từng bước, từng cái biết giác niệm, biết cái giác niệm đó ở từng vọng niệm, “Tri huyễn tức ly huyễn”. Đó là con đường thể nhập, ung dung, tự tại trong khổ đau, thiện ác…Mỗi vọng niệm đều có cái biết nào khác, đâu còn cái niệm nào khác: “Không nhân pháp”. Cái hằng biết đó tạm mượn là “thân ta” nhưng thật tướng không có cái biết đó nữa, không ta, không người, không thời gian nhưng “Như lai”.

Ngái Huyền giác đã chứng ngộ ở đó ngài mới viết lên những lời trên trong chứng đạo ca, “Bài ca chứng đạo”. Đây là một tác phẩm tu chứng của Ngài, ngài viết lại, tạm mượn danh tự hình danh sắc tướng thể hiện ra. Cho nên, người có tâm đạo hãy lấy những gì đang có ở đây để thực hành tu học hầu một ngày nào đó liễu đạo chứ đây không phải là một tác phẩm viết ra để coi đó mà lý luận phải trái. Đạo không nằm ở sự lý luận, văn tự. Khi đã thật sự sống chân thật. Rồi thì đời sống của mình là Đạo. Mỗi hành trạng đều là đạo cả. Hãy học đi rồi tự rũ bỏ xuống, bỏ tất cả đề được tất cả. Cả Vũ trụ bao la sao ta lại ngu muội, chấp giữ, sở hữu một ngôi nhà, một ngọn núi. Khi chấp giữ ta đã dính mắc ở đó rồi. Hãy nhìn thấy nó, không nắm giữ thì ta sẽ sở hữu làm chủ cả không gian vô tận. Muốn đi, muốn ở, muốn đến, tự do, tự tại “đó là như lai”. Cái biết không bị ngăn che nó được thông. Từ đó muôn nẽo, muôn nơi đó là “Thần thông”. Vậy, đã gọi là Thông thì không bị bịt, giữ. Nếu chúng ta có cái đó thì chỗ nào gọi là sanh, chỗ nào gọi là tử. Ai khổ đau, ai vui vẻ. Đấy cũng là Thần thông. Có thần thông tự tại như vậy mới tự do đi đến địa ngục, thiên đàng. Khi chúng sanh chấp giữ, vui vẻ, hỉ lạc là Thiên đàng. Mà chúng ta không bị hai cái đó làm che mờ, bịt giữ thì Thần thông. Thần thông ấy sẽ đến địa ngục cứu độ chúng sanh, sẽ đến thiên đàng cứu độ giải thoát Thiên đàng. Vì chư thiên thì cũng có một ngày, thời gian nào đó cũng sẽ suy sụp, phước bảo cũng phải trầm luân thôi.Đây là một ý nghĩa mà Ngài Huyền giác đã thấy: “Sát na dứt sạch A tỳ nghiệp”.

Ngài đã thấy và đã chứng ngộ thật tướng như vậy. Cho nên, ngài viết lời nhắn rằng: “Nếu đem lời vọng dối chúng sinh. Tội rút lưỡi tự mang trần kiếp”.

Ngài đã cam đoan như thế. Thì hôm nay, chúng ta hãy hoan hỉ thể nhập đi, để khỏi phụ long Cổ Đức. Hãy đốt ngọn vô tận đăng tiếp tục soi đường cho chúng sinh vạn hữu. Trên đây là sự soi sáng, quán soi trí huệ. Trên văn tự ta thấy cũng dễ nhưng trong sự tu học muôn vàng khó khăn. Để trợ duyên trên bước đường tu học, người hành giả nên lấy “Úm chiết lệ, chủ lệ, chuẩn đề, ta bà ha. Bộ lâm” làm hành trang độc hành mà tu học. Trong nghiệp thức mênh man vô bờ bến kia người hành giả rất khó thể nhập vào chơn như thật tướng. Phần đông, chúng ta bị những chướng duyên vi tế, tiềm tàng bên trong. Chúng ta nói thấy biết cái biết hằng có như trên luôn bằng cái lý thôi. Ta tự chấp cái lý sự đó rồi cho đó là “cái biết hằng có”. Chúng ta thật lầm tưởng, nên cứ tu mãi. Càng tu càng thấy ngã chấp dẫy đầy là do ta chấp cái lý mà ra cả. Ở ngay đây, ta hoàn toàn không tỉnh giác nổi. Cho nên, ngay đây Đức Phật bảo rằng chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng thôi, Ở ngay đây, hoàn toàn buông xả cho đến ý niệm, cảm xúc, hành trạng buông xả cũng không còn. Như vậy, ở ngay đây thật là khó, người hành giả ngay đây phải “Vô công dụng đạo”.

Từ những khó khăn trên, người hành giả lần lần tu niệm, trì niệm “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm” từng ngày, từng giò, phút niệm tụng. Niệm tụng như vậy nghe kỹ, thấy kỹ từng âm thanh một. Trong mỗi giác niệm thấy biết kia luôn mang cái hằng biết. Người hành giả cứ như vậy nuôi cái Thánh thai biết “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Đến một ngày nào đó, gió mát, trăng thanh, liễu rũ, hoa rơi buôn lỏng đi vào đời. Vạn vật, vạn pháp “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm” cùng ta là một thể chơn tánh, chơn niệm.

Và đến khi đó, người hành giả thoải mái đi vào đời, không còn chướng duyên nào cả. Người và ta như một, vạn pháp cũng không hai. Thiện ác cũng thế. Một hạt cát nhét đầy Vũ trụ, Vũ trụ chỉ là một hạt cát.

“Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha Bộ lâm”.

Hôm qua tâm dạ xoa
Sáng nay mặt Bồ tát
Bố tát với dạ xoa
Không cách một đường tơ




Cư Sĩ Thanh Hùng
Pháp Hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 09:39:33(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 2 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày, Huyền Mai trên 04-11-2016(UTC) ngày
ThanhHung  
#4 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết
PHẨM 4






Chánh Văn:

Đốn giác liễu như lai thiền,
Lục độ vạn hạnh thể trung viên
Mộng lý minh minh hữu lục thú,
Giác hhậu không không vô đại thiên.


Dịch Nghĩa:

Chóng giác xong như lai thiền
Sáu độ muôn hạnh thể tròn nguyên
Trong mộng rành rành bày sáu thú
Tĩnh rồi vắng bặt cả ba nghìn





Đốn giác là một sự ngộ trực giác không qua một thứ lớp nào cả. Ngay chỗ thấy rõ bản tâm thanh tịnh của mình. Ngày xưa, ngài Huệ Khả đến cần học với Đạt Ma Sư Tổ. Ngài cầu xin Đức Đạt Ma Sư Tổ an tâm cho Ngài.
Ngay lúc đó, Đạt Ma bảo rằng: “Ông đưa tâm ra, ta sẽ an cho”.
Ngài Huệ Khả nghe vậy, lúc đó quay lại tâm mình tìm xem, quán soi coi cái tâm lăng xăng đó ở đâu. Một sự trực nhận nhanh, ngài không tìm thấy, Ngài Bạch rằng: “Con không thấy”.
Đức Đạt ma bảo: “Ta đã an tâm cho ông rồi đó”.

Một tích tắc, một sát na sở tri chướng đều mất, một sự trực nhận, ngay đó Ngài đã tỏ ngộ.
Một sự trực ngộ nhanh chóng, không còn một sự suy tư, lưỡng lự. Vì cả sở tri chướng hoàn toàn sụp đổ. Người hành giả chúng ta tu ngay chỗ này hay bị lầm tưởng. Thật sự khó phân biệt. Vì lâu đời đến nay, sự huân tập vạn sự, vạn ý niệm, muôn pháp nó nằm sẵn trong đó. Khi chúng ta khởi niệm, nó liền biến hiện, đem sự hiểu biết phân biệt các duyên tốt xấu, thuận nghịch trong đó tiếp tục tạo nên nghiệp, cảnh giới khác. Nó nằm rất sâu nhiệm vi tế. Với tâm chúng ta không tỉnh giác sâu, ta hoàn toàn không thấy tướng trạng của nó. Khi chúng ta khởi niệm một vấn đề nào đó. Tức là ta đã vọng niệm. Trong cái vọng niệm này, nó mang theo hình sắc, âm thanh, cảm giác, thọ cảm, phân biệt…. Tự nghiệp lực, chủng nghiệp vi tế trong sở tri chướng, sở tri kiến đó nó sẽ lần lượt mang ra, nổi lên những cảm giác, thọ cảm thuận nghịch, hình danh, sắc tướng để mục đích của vọng nghiệp này là thức phân biệt. Khi đã phân biệt rồi đó, nó sẽ mang theo, huân tập lại hình danh, sắc tướng, thọ cảm thuận nghịch để tìm cảm giác thọ cảm giống với ý niệm vừa khởi. Thuận thì vui, nghịch thì buồn, đau khổ. Từ đó, nó tác động lên than, khẩu, ý. Cảm xúc, hình danh sắc thuận thì khẩu nghiệp sẽ lựa những tiếng âm dịu dàng phát ra. Ngược lại, thì những khẩu âm giận hờn nổi lên. Khi thuận thì than, tay, chân nhẹ nhàng âu yếm. Nghịch thì mạnh bạo, tàn nhẫn. Và khi đó, ý niệm (ý nghiệp) cũng tuôn ra, phát ra thề hiện trên dòng suy tư của mình những điều mâu thuẫn, thương ghét, thuận nghịch khác nhau. Những nghiệp lực như vậy khi vừa khởi lên là nó tang vào bên trong căn, tàng thức. Chủng nghiệp đó nó tàng sâu vào, càng lúc càng phức tạp, trùng trùng tàng vào, trùng trùng duyên khởi. Khi có đủ duyên nó liền hiện. Nếu ngay đó, chúng ta tỉnh giác thì muôn duyên lặng xuống. Không tỉnh giác thì khẩu nghiệp, than nghiệp, ý nghiệp, tham, sân,si kéo theo, che đậy muôn đời, muôn kiếp khó mà ra khỏi vòng trầm luân trên.

Những sự kiện tâm thức đó là “Sở tri chướng”. Một sự chướng ngại do cái huân tập nghiệp lực trên sự hiểu biết phân biệt. Khi hiểu biết phân biệt thì đương nhiên là sẽ có ta. Đã có ta rồi sẽ có người, phân biệt, ngăn che, giới hạn cho nhau. Nên có chúng sanh và thế giới. Chúng sanh và thế giới như vậy trùng trùng, điệp điệp, sinh diệt trùng trùng lên nhau nhưng không ngăn ngại. Sự sự không ngăn ngại. Không ngăn ngại vì mỗi cá nhân thì sẽ có nghiệp lực, chướng ngại riêng do sự chấp ngã, chấp pháp của cá nhân đó. KHi thích cành hoa hồng thì đó là nghiệp, một sự huân tập nhiều đời, nhiều kiếp. Vô số hình ảnh hoa hồng, vô số cảm xúc thuận nghịch trong tàng thức nó sẽ thể hiện ra. Chỉ trong một sát na thôi, đức phật bảo sự sinh diệt trong sát na đó tính số lần sinh diệt nó lên hang trăm lần. Thật là một điều kinh khủng, không thể tưởng tượng nổi bằng trí óc, không thể viết nổi, lý luận bằng văn tự được. Chỉ có Thiền định tỉnh giác mới nhìn thấy nó.

Chúng ta khi ngồi tĩnh tọc, ta sẽ thấy chủng nghiệp. Chúng nó lăng xăng, lộn xộn nổi lên liên tục. Khi suy nghĩ cái này, cái kia vào, suy tư cái nọ thì cái khác vào. Mà khi ta thấy một ý niệm đó ngay trong tâm thức thì nó đã trãi qua hằng trăm lần sinh diệt phân biệt rồi. Cuối cùng, mới hình thành cái niệm đó một thời gian qua, một thời gian sinh diệt thật kinh khủng. Nó đi nhanh hơn ánh sáng quá nhiều. Như trong tâm thức đã biến hiện như vậy rồi thì người hành giả khó thoát ra ngay chỗ này, bị đọa cũng ngay chỗ này, mà giải thoát cũng ngay chỗ này. Tiếng chuông vang lên boong boong, đức phật đã đi rồi. Khi người hành giả nghe tiếng chuông đó mà không trực nhận.

Hương Nghiêm Thiền sư khi cuốc đất, ngài đã nghe tiếng sỏi vang lên, trực ngộ ngay nơi đó. Một sự bùng nổ không có giác niệm nào, không có sự kiện nào, sạch hết niệm về vật, ngã tâm hết sinh vì không còn chỗ để tâm sinh khởi.Đã đốn giác rồi thì tự tánh hiển bày. Lúc đó, chỗ nào cũng có tự tánh cả. Cũng sống bình thường qua lại trong vạn pháp “Hằng biết”. Sống bằng tự tánh như lai Thiền. Thiền này không có trong sách vở, văn tự, ngôn ngữ luận bàn. Vì cái đó không thể dùng văn tự diễn đạt, luận bàn được:

Sáu độ muôn hạnh thể tròn nguyện

Trong tự tánh thanh tịnh đó, có đủ tất cả pháp sáu độ muôn hạnh đầy đủ cả. Ở đây, ngài nói sáu độ tức là lục độ ba la mật. Mà Lục độ Ba la mật là rốt ráo, rộng lớn. Mà đã như thế thì không thể rời tự tánh mà có lục độ được. Về với tự tánh là về với sự thể nhập vô trụ, vô pháp. Ở ngay đó, không có một vật bám víu vì tất cả các niệm, các pháp đều do duyên hợp, giả có tất cả. Cho nên, ngay đó “Giác trí cái biết” tạm mượn như vậy, tự chứng biết trên từng vọng niệm, vạn pháp. Pháp nào cũng biết thì đâu còn có pháp nào và niệm nào nữa. Chính nó tự biết. Trong muôn hạnh thì ngay chỗ đó không còn vướng mắc, bận bịu vào một pháp nào cả thì gọi là “Bố thí ba la mật”, bố thí rốt ráo. Ngay đó, tất cả đều là biết, là tự tánh cả thì đâu có pháp nào sinh gọi là nhẫn nhục rốt ráo, nhẫn nhục ba la mật. Ngay chỗ đây, tất cả đều thể hiện cái biết tròn đầy, không ta, không người, không pháp thì đâu có sự lăn xăng loạn động nên có Thiền Ba la mật, thiền rốt ráo. Hằng có cái biết tất cả vạn pháp như vậy là tuệ Ba la mật, huệ rốt ráo. Không có một pháp nào khác, tự tánh của nó hằng giác biết thì là tinh tấn Ba la mật. Một sự tinh tấn rốt ráo:

Trong mộng rành rành bày sáu thú
Tỉnh rồi vắng bặt cả ba ngàn


Chúng ta sống hằng ngày buôn lung theo vọng niệm, bị nghiệp thức luân chuyển, trầm luân trong khổ đau. Mê muội, không tỉnh giác cho các pháp đều là thật, chấp ngã có thật là ta. Rồi từ đó, chấp sự nghiệp tạo dựng muôn pháp, bảo thủ ngã chấp. Thấy nhà cửa là thật, đền đài, sự nghiệp là thật, không nhìn được các pháp duyên hợp, giả có. Từ đó, bảo vệ thành quả, sự nghiệp, bảo vệ tốt, bỏ xấu hư, gây tạo vô số cạm thọ, buồn vui trong tâm thức. Tâm xấu trước mắt sẽ thấy mình khổ, xã hội ghê sợ. Tốt thì Xã hội khen đem lại lợi ích, thân thiện. Trong tâm ta, nó có cả thảy lục khí ở đấy. Người mê lầm chạy theo Trần cảnh sẽ bị trầm luân, đọa lạc, càng lúc, càng đắm chìm không ngày ra khỏi. Nhưng cũng nơi ấy, tỉnh giác lại thì không còn gì cả, chỉ là một giấc mộng, duyên hợp, giả tạo. Chính ngay sat na tỉnh đó thì muôn duyên đều sụp đổ xuống cả. Đâu có ác thiện, bại thành an nhiên, tự tại đến lui, không có vướng mắc gì cả: "Tĩnh rồi vắng bặt cả ba ngàn"

Tĩnh rồi mấu chốt sanh ta tâm thiên đại thiên thế giới đều sạch. Trong chứng đạo ca chứa đựng những trí tuệ liễu ngộ thanh tịnh tự tâm. Người học chứng đạo ca dễ đến con đường giác, an lành. Có người đến an lành, giải thoát, cũng có người không. Văn tự hiển bày như vậy như rất khó vào. Vì nơi đây hoàn toàn không có một vật gì, không tạo tác.

Ngày xưa, khi Đức Phật thành đạo. Ngài nhìn thấy sự vi diệu khó đạt như vậy, ngài định nhập vào Niết bàn. Nhưng lúc đó, nhờ chư thiên xin Đức phật từ bi chuyển pháp luân. Và cuối cùng, Đức phật đại bi đã chuyển động cánh cửa bí mật. Thì hôm nay, cũng xin nương nhờ bi nguyện của chư phật để đốt “Ngọn đuốc từ đâu về, để cho ánh sáng đi về đâu”.

Qua những văn tự diễn đạt thật tánh trong trong những phẩm vừa qua thì mật chú Chuẩn đề luôn đi cùng, thể hiện lên trong pháp tu “Hiển mật viên thông cứu cánh thành phật tâm yếu”.

Mật tông là một tông lớn trong ba tong của nhà Phật. Mà ở đây chỉ là tu Mật chú chuẩn đề, một tâm chú của Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề. Mật chú này nó có đầy đủ năng lực: Thủ hộ, truyền tải bí mật hạnh (Luôn có những vị chơn sư Bí mật, chư thánh chúng, bồ tát gia hộ cho hành giả trong suốt quá trình tu tập – Vô sư trí) xả bỏ, thù nhập trong tâm pháp. Thần chú Chuẩn đề có rất nhiều năng lực, vô số pháp môn trong đó, có sẵn để những vị chân sư mật truyền chuyển tải cho người hành giả tu học. Người hành giả cóp khi vào tu mật chú Chuẩn đề chưa từng học qua pháp tánh Hiển giáo nhưng cũng được tự biết, tự liễu lấy những bí pháp rồi thể nhập tự tánh thanh tịnh. Đó là những lợi lạc của người hành giả tu theo Mật tong. Mật tông tối thượng thừa thiến quán này luôn luôn lúc nào cũng nằm trên tự tánh thanh tịnh. Người hành giả tu học Mật chú Chuẩn đề khi đi vào chuyên tu, trước nhất họ đã được pháp tu “Tam mật gia trì”, khẩu mật, thân mật, ý mật.

Trên nền tảng giới luật, mới ban đầu họ chỉ thọ nhận năm giới thôi. Nhưng trong quá trình tu học, người hành giả hằng ngày trì niệm thần chú thì khẩu nghiệp sẽ thanh tịnh, miệng lần lần sẽ nói điều dễ nghe, thanh tịnh, vui vẻ. Đó là bước đầu, về sau nội thức, tâm niệm. Khi đó thì những niệm nổi lên trong tâm lăng xăng kia đều thầm nghe “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Những vọng niệm đó trong tự tâm nổi lên thì nó cũng tự nhiên niệm “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm. Những ý niệm, hình danh, sắc bên ngoài đưa vào bằng mắt, bằng tai, bằng cảm xúc. Chúng cũng niệm được “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm” Như vậy người hành giả càng tu tập thì càng đầy những niệm “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Cho đến lúc thân thể may động, cảm xúc thấy nghe đều là “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Lúc đó, thân mật cũng thể hiện. Hằng ngày, người hành giả kiết ấn đủ những ấn, đủ những động tác. Nhưng những động tác, sự chuyển động đó từ đâu ra, cũng từ trong tự tánh thanh tịnh. Khi một Đức Phật ngồi tĩnh tọa đại định, ngài luôn luôn kiết một ấn pháp, kiết ấn đó để chi? Để lan tỏa, thể nhập vào Vũ trụ. Một sự bế, buông xả hoàn toàn mất hút không dấu vết.

Những ấn pháp rất vi diệu. Mỗi ấn có động dụng của tự tánh riêng. Người hành giả chỉ cần kiết ấn, niệm chú kết hợp. Ấn pháp – Mật chú, ý mật phù thành một thì ngay chỗ đó cũng không ta, không người, không một pháp gì cả, thể nhập hoàn toàn, tự do, tự tại, không ngã, không pháp. Một sự thể nhập của lý tối thượng thừa Thiền cùng sự sự thanh tịnh. Sự thể nhập như vậy gọi là như lai tự tánh. Người hành giả Mật tông được thọ hưởng Thiền và Mật. Lấy Thiền mật, hiển mật viên thông để làm cứu cánh tu học.

Trong khuôn khổ bài viết này, chỉ đưa ra vài nét trong tam mật gia trì để nhằm cho hành giả tinh tấn tu học. Sau khi học qua hiển giáo để cuối cùng vận dụng thể nhập vào tự tánh bằng tâm phú ngoằn ngoèo lên xuống. Thấy nó rất đơn giản nhưng khi kiết ấn, nội tâm thức niệm chú thì nó sẽ diễn đạt được tự tánh thanh tịnh diễn đạt của trí tuệ siêu thoát, trong đó “Úm chiết lệ, chủ lệ, chuẩn đề, ta bà ha. Bộ lâm” ngay đây không có ta niệm. Hãy biết cái biết đó ngay khi nó đang sanh niệm thì vô niệm. Cũng chính ngay đó, “úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm” không tướng, không, không, không, chẳng không. Đấy chính là như lai chân thật tướng.



Cư Sĩ Thanh Hùng,
Pháp Hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 09:53:42(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#5 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết
PHẨM 5






Chánh Văn:

Vộ lượng phước vô tổn ích
Tịch diệt tánh trung mạc vấn mích
Tỉ lai trần kính vị tằng ma
Kim Nhật phân minh tu phẩn tích.



Dịch Nghĩa:

Không tội phước, không thêm bớt
Trong tánh tịch diệt đừng hỏi kiếm
Xưa nay gương bụi chữa từng lâu
Đây lúc rõ phân cần biện chắc.



Ở phần này, Đức Huyền giác Ngài nói “Không tội phước, không thêm bớt”. Trong tánh tịch diệt đừng hỏi kiếm. Tại sao không tội phước? Ta hãy tự hỏi và hãy thật chứng những điều trên cũng như Ngài đã chứng ngộ điều đó. Ngay đây đòi hỏi người hành giả phải chân thật, chứng ngộ mới thấy được điều đó. Nếu không chứng thật được bản tính thanh tịnh của mình mà học đòi. Nói làm những điều trên thì vô cùng nguy hiểm. Chúng ta hãy cẩn thận điều đó.

Khi người hành giả đã liễu ngộ được tất cả các pháp, vạn sự, vạn vật đều không tướng, vô ngã, quán soi tự nhìn thấy các tướng, các pháp đều do sự giả hợp mà có, không có thật thể. Khi chúng ta ngồi tĩnh tọa niệm chú, hành thiền thì thường thấy những pháp, ý niệm lăng xăng, vọng khởi lên trên đầu. Ngay tức khắc đó, bạn hãy dung kiếm huệ, một loại trí tuệ sắc bén nhanh chém chúng ra từng mảnh. Tức là hãy quán soi chủng loại vọng niệm đó nó hình thành như thế nào chứ đừng chặt bỏ nó. Thí như khi chúng ta đang ngồi tĩnh tọa, niệm tụng thì một niệm vọng lên. Một câu chuyện lúc trước lại hiện lên. Trong câu chuyện đó, người A chửi mình là đồ chó đẻ. Câu chuyện đó tưởng chừng như đã quên lãng vào quá khứ rồi. Câu chuyện đã trãi qua rất lâu. nhưng hôm nay, trong lúc hành thiền, tự nhiên khung cảnh những câu chửi rủa đó lại trở về không thiếu một chữ. Không phải tự nhiên mà nó lại trở về đâu. Mà do sự tĩnh tọa làm cho các duyên bên ngoài ngưng lại. Khi ngưng lại như vậy, do ta điều tiết chưa thông hơi thở hơi uất khí lại làm ta nóng, khí huyết nóng, nhịp tim nhảy bóp nhanh, lượng máu lên não nhiều lần gây ra những làn sóng não tạo nên những cảm giác hồi hộp, nong nóng trong lòng. Cảm giác này y như cảnh cảm giác xưa kia mình bị người A chửi. Thế là nghiệp duyên đó nổi lên. Nghiệp duyên chứa trong tàng thức như là một chuồng ngựa. Mỗi con là một nghiệp duyên. Khi con nào chứng ngảy chồm phóng ra ngoài thì chủng nghiệp đó nó hiện hành. Cảnh xưa cũ – lạc ảnh tử, những ảnh rớt lại bắt đầu đủ duyên sanh ra. Cảnh thuận thì tham đắm chiếm đoạt, cảnh nghịch thì chối bỏ. Khi có cảm xúc tham đắm thì tự những chủng duyên có sẵn trong tang thức, trong các căn: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, than, ý bắt đầu chúng tự duyên duyên với nhau mà tự đạo diễn ra. Và ngay chỗ đó nó có những động lực vô hỉnh, sức mạnh vô hình do duyên nghiệp tạo hình thành nghiệp lực. Cái lực này tác động vào “Khẩu” thì miệng mình mắng chửi tuỳ theo nặng nhẹ mà thốt ra những lời thô tục, độc hại khác nhau. Đó là tạo nghiệp tiếp. Nhưng ở giai đoạn này còn nhẹ. Giai đoạn tiếp theo tác động vào “Thân”. Sauk hi miệng chửi rủa rồi cảm thấy không thoả mãn lòng tham, sân, si của mình bắt đầu dùng tay đánh đập loạn xạ trong mê lầm (Khi người giận, si mê, tay chân qườ quạng, mê lầm.Giai đoạn tiếp, nếu thoả mãn cơn giận tham, sân, si thì thôi còn không sẽ dùng “ý” tạo tác nghiệp tiếp. Một dòng suy tư mê lầm kéo những gì của mình gôm lại như là an hem, cha mẹ, vợ con, dao búa tạo nên thế lực mạnh hơn để thoả mãn lòng tham, sân, si chiếm đoạt và huỷ bỏ. Như vậy, một dòng nghiệp lực dẫy đầy nước mắt và máu cứ tuôn chảy, ánh sáng và trí huệ sẽ lu mờ trong tâm thức của chúng sanh. Đó là nguồn gốc của tội lỗi.

Khi người hành gỉa hành sâu vào trí huệ bát nhã rốt ráo kia, họ hiểu như vậy rồi, hiểu thật tường tận vì chính họ đã tự hiểu. Thì ngay chỗ đó, trí huệ tự giải thoát của họ thể hiện lên nhìn rõ chân tướng của mọi tội lỗi là một dòng sinh diệt giả tạm do sự chấp ngã, chấp pháp mê lầm. Thấy rất rõ từ vô thuỷ, vô chung đến nay do chấp thân này là thiệt, không biết là do đất, nước, gió, lửa – tứ đại hợp thành. Từng giờ từng phút bốn cái này nó sinh khắc mà diệt. Cái thân tứ đại kia trong từng giờ, từng phút đang sinh diệt. Có nghĩa là hằng ngày tim, phổi, lục phủ, ngũ tạng đang yếu dần, tế bào máu huyết, các chất nó đang phản ứng hoá học liên tục biến đổi. Thân này, máu thịt này, cảm xúc này nó phải suỵ xuống để hình thành ở thể mới. Thân ta, cuộc sống ta đang sống thấp thoải mỏng manh trước thềm sinh tử.

Thân ta như thế đó, vạn pháp xunh quanh ta như thế, một dòng sinh diệt lẫn quẩn luôn mang chúng sanh vào sự khổ đau, tội lỗi. Qua sự sanh lão, bệnh tử đó, thái tử Thái tử Sĩ Đạt ta, người đã đi dạo bốn cửa thành. Ngài quán sâu vào đó, vào cái cội gốc của tội lỗi. Với một ngày trong sáng, ngài đã thực sự sống lại, sống trên cái sinh diệt, sống trên cái tội lỗi lẫn quẩn đó mà không ô nhiễm. Ngài đã thấy, chứng ngộ được tự tánh thanh tịnh. Ngay chỗ đó không một vật nào, không một pháp nào. Trong cái sinh diệt trùng trùng duyên khởi đó, có một cái không bao giờ sinh diệt, không bao giờ mất. Nó đã hiện hữu muôn đời. Ngay chỗ sinh đó, nó hiện hữu tích tắc ngay đó. Và ngay chỗ đó “chỉ biết thôi” hoàn toàn buông xả. Rồi ngay chỗ diệt đó tức khắc nó cũng chỉ biết thôi thì ở hai khía cạnh sinh và diệt đều hằng có cái biết đó thì tội chướng chỉ là giả danh, thiện cũng chỉ là giả danh thôi. Vì muôn pháp không thật tướng chỉ có “biết” trong vô thủy, vô chung đến nay. Người hành giả tu Mật chú chuẩn đề dễ tùy thuận vào tự tánh thanh tịnh này. Người hành giả trì niệm chuyên sâu vào trong nội thức, trong đời sống tưởng đi sâu vào trong “căn thức”. Họ ngồi trì niệm quán soi từng vọng niệm lăng xăng. Mới ban đầu họ kích thích, tác động, vọng giác cho tất cả các giác niệm biết vào trong vọng niệm. Sau đó, tự nhiên tất cả các vọng niệm nổi lên “ngay chỗ đó” biết “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”.

Cứ như vậy, khi ta tu tập hằng giờ, hằng phút như vậy, tỉnh giác biết thần chú chuẩn đề sẽ khắp trong mọi vọng niệm thiện, ác. Lúc đó thì không còn có vọng chơn gì cả, chỉ còn một pháp duy nhất là biết thần chú “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Ngay chỗ đây, nếu chuyên về Thiền hiển giáo, ta khó phân biệt được cái tánh tự thanh tịnh của tự tánh, khó phân biệt đựơc cái biết phân biệt ở đây. Vì vào đây cũng chỉ tạm gọi là vào chứ thật tế ngay đây không có một pháp nào, một niệm tác động vọng khởi cả. Người hành giả mật chú Chuẩn đề ngay đó họ bỏ tất cả hết, chỉ nghe một nội thức “úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm” vang lên nhưng rất vi tế, nhỏ nhiệm. Nhưng ngay đây, càng lúc càng kiên nhẫn nghe biết “úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Cứ niệm tu từ từ như vậy để nuôi cái thánh thai “hằng biết”, để một ngày, một thời gian, không gian nào đó quên luôn cả cái biết đó. Lúc đó mới là cái hằng biết.

Sự huân tu của hiển và mật như vậy cho nên nó đem lại sự lợi ích rất lớn cho người tu. Ngay đây, khi đã trở về liễu nhập với cái hằng biết tự bao giờ. Thì trước mặt, trong tâm vạn pháp đều là cái hằng biết, không còn thân ta ngã chấp, không còn pháp chấp thì tội chướng cũng đâu có. Tội chướng kia cũng do giả duyên hợp thành mà thôi.

Không tội phước, không thêm bớt,
Trong tánh tịch diệt đừng hỏi kiếm.
Xưa nay gương bụi chữa từng lau,
Đây lúc rõ phân cần chắc


Cư Sĩ Thanh Hùng
Pháp Hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 10:03:33(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#6 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết

PHẨM 6








Chánh Văn:

Thùy Vô niệm, thùy vô sinh?
Nhược thực vô sinh vô bất sinh
Hoàn thủ cơ quan mộc nhân vấn,
Cầu Phật thi công tảo vãn thành?

Dịch Nghĩa:

Ai không niệm? Ai không sinh?
Nếu thực không sinh, không chẳng sinh
Gọi người gỗ máy hỏi xem thử,
Cầu phật ra công bao kiếp thành?



“Ai không niệm? Ai không sinh?”. Đây cũng là một thủ thuật của nhà thiền. Chư Thiền sư không những dùng cây gậy, lời nói, nạt nộ, gây gợi trực giác cho Thiền giả. Đối với quí Ngài ở mọi lúc, mọi nơi lúc nào cũng có đạo. Ngay đó, mặc tình sử dụng.

Ở phẩm này, ngài Huyền giác dung văn tự để đánh thẳng vào nội tâm khiến cho người đọc gợi lên ý niệm “Ai không niệm?” Nghĩa là khi chúng ta gợi lên ý niệm ai đó tức là có ta, có người , có sự tạo tác. Mà ở đây tạo tác ra vô niệm (Không niệm), tạo tác ra vô sanh. Vạn pháp từ vô thủy, vô chung đến nay bản chất của nó là vô niệm, vô sanh. Nó hằng có tự lâu đời, không cần một tác nhân nào tác động vào nó để bảo nó không sinh hay để bảo nó không niệm. Vì trong vạn pháp muôn màu, muôn vẻ đó, nó đã có sẵn cái hằng giác tánh của nó. Chúng ta thấy nó có sinh có diệt rất rõ ràng nhưng những cái thấy như vậy gọi là thấy trong sự giả hợp, sinh diệt. Một cành hoa chúng ta thấy nó có lớn, có đẹp trong từng thời gian, có đẹp, có xấu đó là do sự kết hợp lại của từng duyên. Nó do sự chăm bón, phân nước, con người, thời gian. Qua từng lúc khí hậu của từng mùa mà nó lớn lên rồi nó diệt mật bị trong sinh, trụ, dị, hoại, diệt. Đủ duyên thì nó sanh tốt. Cái đủ duyên này sanh tốt đẹp này cũng do nhiều tập khí nhiều đời, nhiều kiếp, nhiều ý niệm, nhiều con người giả định cho đó là tốt, là xinh, tặng cho một mỹ danh như vậy chứ thật tế cái tốt, cái sinh đó cũng chỉ trong một thời gian ngắn đoạn rồi nó cũng vụt tắt để chuyển biến qua giai đoạn mới. Cành hoa kia nó ủ rũ héo hon tưởng nó đã diệt. Nhưng thực tế những nguyên sinh tử vật chất cấu tạo hợp thành cành hoa kia chuẩn bị sinh và đang sinh một hiện trạng mới. Có người bảo rằng cành hoa đẹp của tôi ơi! Hiện giờ em đang ở đâu? Cành hoa ấy đang cười khúc khích và bảo rằng “em đang ở bên anh đây, sao anh vô minh không nhìn thấy em?”. Chúng có mất bao giờ! Cũng vậy bản chất của sự vật cũng vậy thôi. Nó diệt đi do nó đang sanh.. Nó đang diệt đi là do nó đang sinh. Những cái chúng ta thấy mất còn đó là nó đang hình thành những cái khác. Do chúng ta chấp chặc vào cành hoa hồng đó bảo rằng nó rất đẹp. Nhưng bạn có biết không trong sự mất của cánh hoa hồng đó nó đang sinh thành một loại hoa vô ưu ở những cảnh trời hỉ lạc, hạnh phúc. Trong cái thấy cái biết đó, cái hằng giác đó của mỗi chúng sinh nó không có nhơ, không có sạch ở mọi hiện trạng nó đều thể hiện lên, nó đều nói cho cá nhân đó biết là nó đang ở đó. Ở mọi nơi như thế trong lòng bạn, trong vạn pháp, vạn sự đều biết, đều hằng thể hiện lên như thế. Thì ngay đó không có ai không niệm, không có ai không sinh cả. Vì có, không, không không có, ta cứ chồng lên vô lượng nghĩa lý như vậy cũng đều không ăn nhằm gì đến nó cả.

Nếu thực không sinh, không chẳng sinh,
Gọi người gỗ máy hỏi xem thử
Cầu Phật ra công bao kiếp thành?


Như vậy, thật ra tấc cả vạn pháp bản tánh thanh tịnh của nó không sinh, không diệt gì cả. Cái thấy sanh sanh diệt diệt là cho ta chấp mê muội, không thấy được sự giả hợp không thực thể của vạn pháp. Từ đó, rồi ta thấy vọng tâm tự xây dựng rồi gom góp cùng nhau xây dựng những ý niệm chung ( riêng nghiệp công nghiệp). Gọi tự vọng chấp đặt thành những qui giới, ngăn che đủ điều từ đó có ta , có người, có pháp, không pháp, thế giới căn than ra đời. Sự khổ đau bằt đầu dẫy đầy. Vì chúng ta cho các pháp là thật. Nó có thật sinh, có thật diệt. Khi có sinh bản than mình, mọi người (Riêng nghiệp cộng nghiệp) xây dựng nền móng gốc rễ để bảo vệ cái đó. Nếu mất đi thì sẽ đau khổ còn cài bản thận mình, mọi ngưởi cùng thấy đó là việc xấu thì tìm mọi cách chối bỏ, rũ bó nó đi. Nếu bỏ không đươc nó, không mất thì cũng đau khổ. Được thì vui, những sự kiện được mất, vui khổ kia tưởng chừng nó sẽ mất theo thời gian, theo sự kiện nhưng thật tế nó lắng sâu trong tang thức chúng ta. Cái gốc rễ của sự đau khổ đó nằm lặng sâu trong tang thức. Có một ngày nào đó lâu hay mau cảnh duyên đó đủ nó sẽ trổi dậy. Hiện tượng, cảnh cũ như mới ngày nào diễn lại (Trầm luân). Và nó đến (Luân)- luân chuyển theo nghiệp lực, nhân quả trả vay mãi mãi không dừng trụ.

Ở bài này, tạm mượn lên hai khía cạnh, một nói về cái hằng biết, bản tánh thanh tịnh như lai tạng, cái thứ hai nói về sự vô minh chấp chặc vào các pháp mê lầm cho rằng nó thật có để cuối cùng chúng ta bị trầm luân trong khổ đau. Khi đã nhìn thấy vạn pháp trên hai khía cạnh đó rồi. Chúng ta hãy tự mình quay lại, tự nhận lấy cái hằng biết đó để mà sống. Nhận cái hằng biết đó mà trôi lăn trong xã hội con người, tự xây dựng hạnh phúc cho mình trong sinh tử, đau khổ. Khi chúng ta đã tự nhận lấy nó, cái hằng biết đó thì nó ly ngoài chuyện có, không, thiện ác, đau khổ. Rồi, khi nó đến nó đã tự ma sát trong nội tâm. Rồi nó mới sản sinh ra cái buồn ngay đó. Cũng vậy, khi ta có cái vui thì trong tâm ta đã có sẵn sự buôn ở đó rồi. Nó tự phân biệt bên trong, có không thiện ác cũng vậy. Nhưng trong một chuỗi sinh diệt đau khỗ đó ta qua từng niệm tưởng đều luôn có cái biết đó. Nó nằm sẵn trong đó. Các bạn hãy tạm nhận cái biết đó đi, trong bùn nhơ, trong sự trong sạch, thiện ác cũng đều có cái biết đó. Ngay chỗ đó bạn hãy tự biết nó, rồi cũng bỏ qua đừng lưu luyến, đừng nặng nhọc gì nó, đừng phân biệt gì nó cả. Thì nó sẽ là người bạn song hành với bạn để đến lúc “có toàn cái hằng biết”. Ở đây, trong nhiều năm tháng tu học về Mật chú Chuẩn đề, tu về Thiền hơn 30 năm. Ở đây, tôi cũng xin mạn phép chia sẻ với Quí bạn đạo tâm là ngay chỗ cái biết đó bạn muốn có cái hằng biết đó mà không dung một tác nhân nào khuấy động ngay đó. Quý bạn nên dùng “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Bạn cứ niệm như vậy hoài trong đi, đứng, nằm, ngồi nghe từng chữ, từng âm thanh một. Khi chúng ta nghe từng chữ, từng âm thanh như vậy đó. Tức là ngay chỗ đó bạn đã tự gợi lên cái thường biết vô phân biệt ở chỗ đó. Vì thần chú là chơn ngôn là tâm âm của Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề, nó không có nghĩa gì cả. Và đến một lúc nào đó, chín âm “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà hà. Bộ lâm” nó cũng biến dạng đi. Nó không còn màu sắc, âm thanh ngay chỗ đó nữa. Mà nó thay vào đó là cái biết thần chú. Chỉ tích tắc một thời gian rất ngắn, rất nhỏ. Nó mang đầy đủ âm thanh, sắc tướng của “Úm chiết lệ, chủ lệ, chuẩn đề, ta bà ha. Bộ lâm” Nó cũng không diệt mất. Và nó cũng không sanh. Và lúc đó những cái sanh diệt cũng không còn nữa. Vì ngay chỗ đó, pháp cũng không phải pháp, an nhiên, tự tại “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”.


Một người trở về nguồn chân
Mười phương thế giới thảy đều tiêu mất


Kinh Lăng nghiêm.


Cư Sĩ Thanh Hùng,
Pháp Hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 10:09:19(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#7 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết
PHẨM 7






Chánh Văn:

Phóng tứ đại, mạc bả tróc
Tịch diệt tánh, trung tùy ẩm trác
Chư hạnh vô thường nhất thiết không
Tức thị như lai đại viên giác.


Dịch Nghĩa:

Buông bốn đại đừng nắm bắt
Trong tánh lặng lẽ tùy ăn nuốt
Các hạnh vô thường thảy toàn không
Đấy tức như lai đại viên giác




Buông bốn đại đừng nắm bắt
Trong tánh lặng lẽ tùy ăn nuốt
: Ngay đây, sư bảo chúng ta buông bỏ tứ đại xuống đừng chấp giữ thì được tự do, tự tại. Đây là một điều tất cả chư tăng, ni phật tử người tu theo Phật đạo ai cũng biết cái giáo lý đó. Nhưng có mấy ai lại làm được chuyện đó. Vì ai cũng bảo thủ cái thân mạng này, cái ý niệm này nó nằm ngay tại mình. Nó hiển hiện như vậy đó. Cho nên, mọi người chúng ta đều cho đó là thật cả. Tay này đụng chạm vào vật mềm thì êm dịu, cả đầu, mình chân cũng vậy. Hằng ngày, mọi ý niệm đến trong từng giờ, từng phút, cái đầu, tâm thức, ý thức, trí tuệ ngay đó đều phân biệt, giải bày rất rõ ràng, rành mạch từng vấn đề. Diễn tiến ý niệm như thế đó mà bảo thân tứ đại này là giả hợp, bảo rằng hãy bỏ nó đi thì đó là một điều khó tin, khó làm đối với mọi người. Những hiện tượng trên, nó đều thuộc về phần thô. Còn người tu càng đi sâu vào nội thức thì cái ngã, cái tứ đại trên nó biến hiện rất vi tế. Tất cả những sự kiện vui buồn, đau khổ thiện ác diễn biến ra người hành giả họ đều xả bỏ tất cả. Nhưng họ chỉ cần có một chút cảm nhận là điều đó đúng, vui thì ngay đó người hành giả đó đều không bỏ qua được ngã chấp, pháp chấp tứ đại trên. Nó đi càng sâu vào nội thức thì mọi pháp, mọi ý niệm nó thật là vi tế, nhỏ niệm, khó nhận thấy nó. Cho nên, có những người bỏ cả cuộc đời họ tu học nhưng cuối cùng vẫn ngã chấp, pháp chấp như thường. Cả cuộc đời sống chung với kinh sách, với giáo lý nhưng cũng không thoát qua cái gọi là “Sở tri chướng”. Những niệm khởi vi tế trong tâm của người hành giả khi họ sống với tuổi thơ va chạm, học hỏi với Đạo pháp đến lúc già đi những hành trang nghĩa lý, những hàng trang hiểu biết lấy cái lý đó để sống thì một lúc nào đó họ chỉ mỉm cười tự đắc sự thông thái, học rộng, hiểu nhiều. Họ thấy họ cao rồi cũng có người do sở tri chướng đó họ biết nhiều rồi tự cho mình là nhẫn nhục tầm thường thì hai cái đó vẫn phải bị vào ngã chấp, pháp chấp tứ đại không khác.

Một cơn gió lùa của tuổi thơ, một cơn gió lùa lúc về chiều già nua nó vẫn làm rợn mình lên. Nó đem đến cảm xúc nóng lạnh dễ chịu thì đó cũng là tứ đại thôi. Khi chúng ta cảm nhận lấy nó, ngay lúc đó thì tứ đại vẫn là tứ đại. Đó là những người tu học thực hành Phật đạo còn những người bình thường như chúng ta hằng ngày va chạm cảm xúc, tác tạo đủ các pháp. Toàn bộ sự suy tư, tác tạo những ý niệm đều do tứ đại này giả hợp tạo cho chúng ta. Cả ngay chỗ đó, chúng ta khó thoát qua vì chúng ta có biết mình là cái gì? Từ đâu đến và đi về đâu, hoàn toàn chúng ta vô minh. Ở trong những con người đó có một người nghe được tiếng chuông cảnh tỉnh của Đức Phật, tri kiến thấy được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang giơ lên một cành hoa. Đức Ca Diếp đang mỉm cười. Có một nụ cười đó nó luôn nở trên trong tấm lòng của những người con lưu lạc xa quê, những người con cùng khổ mang thân tứ đại này đi làm nô lệ, tạo sự cùng khổ lê lếch khắp nơi. Người đó họ quên rằng bên vạt áo của họ đã có sẵn viên ngọc quí giá ngàn đời từ vô thỉ, vô chung nó đã hằng có mà Đức Phật là đấng đại từ phu đã trao lại cho. Mà người đó cứ mãi vô minh bỏ quên hạt ngọc đó cho đến một ngày nọ đại hội linh sơn, đại hội của lòng từ bi trí huệ vô thượng, Ngài Ca Diếp đã nhìn thấy viên ngọc đó và nụ cười của muôn thưở đã hiển hiện. Âm thanh, âm điệu vô tướng của nụ cười đó nó có khắp mọi nơi. Âm thanh, âm điệu vô tướng của nụ cười đó hiện nay nó cũng đã hiển hiện lên “Úm chiết lệ chủ lệ chuẫn đề ta bà ha. Bộ lâm” Nó đã cười trong Tâm Mật. Một nụ cười ngàn đời không bao giờ tắt lịm.

Người hành giả tu bí pháp Mật chú Chuẩn đề, họ nhìn thấy thân này do tứ đại đất, nước, gió, lửa. Những vật cứng xương tóc là đất, nước là máu, mủ, tân dịch, di chuyển chuyển động là gió, sự nóng ấm áp trong cơ thể là hỏa. Bốn tính chất đó bản chất nó khác nhau, có lúc nó đi mọi hướng, bốn hướng khác nhau. Có lúc nó cũng hòa hợp xây dựng do sự sinh khắc đó mà nó làm cho ta khó chịu rồi dễ chịu, sanh, lão, bệnh, tử nó cũng đều nằm trong đó. Nóng giận, tham, sân, si đều có lửa, lạc thú êm dịu cũng có sự mát dịu – nước. Sự thô cứng chuyển động trong đó có Gió, đất. Khi mọi hiện tượng sanh, lão, bệnh, tử đều có các tướng, có các cảm xúc tứ đại nóng lạnh trong niệm tưởng đó nó giả hợp rồi hình thành nên vô lượng tướng, vô lượng cảm xúc từ thô đến vi tế. Từ đó, nó tạo tác hình thành nên những vọng niệm, suy tính tinh vi. Khi những hiện tượng hình thành xong, nó được giữ yên vào tàng thức, tưởng chừng như đã mất, đã quên nhưng nó luôn được cất giữ trong đó khi duyên đến nó sẽ hình thành, hình ảnh, cảm xúc, tất cả cảm nghĩ suy tính phân biệt quá khứ trở về hợp cùng hiện tại, phân định, phân biệt rồi vọng niệm đến tương lai, dẫy đầy hình danh sắc tướng, tạo tác thế giới chúng sanh đau khổ thiện ác. Luôn cả núi rừng sông biển cũng đều do cái ta nhận lầm tứ đại là thật, vô minh chấp giữ mà gây tạo nên. Người tỉnh trí ngay đó người ta thấy sự giả hợp của nó. Nó hoàn toàn có trên hình thức giả hợp, tất nhiều khía cạnh, nhiều nội dung, chi tiết, thời gian, không gian mà hình thành chúng. Nhưng ngay chỗ đó, từng cá nhân chi tiết nội dung đó nó không có thật thể nhất định, nó luôn luôn bị chi phối trong ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai luôn biến chuyển sinh diệt vô thường. Nếu nó có thật thể của nó thì không bao giờ hoại mất cả. Nhưng qua những hiện trạng đó, người hành giả họ thấy trong đó có một cái luôn đi, luôn có sẵn trong vạn pháp sinh diệt đó không mất. Nó hằng có. Nếu nó không hằng có trong vạn niệm, vạn pháp thì cái gì cho thế gian con người biết xấu, tốt, hay đẹp, giả hợp. Cái hằng giác đó không bao giờ biến đổi. Nó biết mà không cái biết trên cái biết đó, tức là nó biết không phân biệt. Ngay chỗ đó, biết mà cũng không có những cảm xúc nóng lạnh, dịch chuyển của tứ đại. Nó luôn cũng ở trong tứ đại đó, trong vạn pháp đó nhưng không phải là tứ đại cùng không ly tứ đại. Đây là một vấn đề bề mặt của nó trên văn tự ngữ ngôn chỉ nhìn nó bằng ngón tay chỉ mặt trăng thôi. Nhưng ở đây, người hành giả Mật chú Chuẩn đề luôn luôn thể hiện nó trong câu “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Họ trong từng ngày, từng giờ phút, trong nội thức của họ luôn thể hiện lên câu Thần chú đó. Họ chỉ biết một pháp đó thôi, ngoài ra không biết một cái gì nữa cả. Nhưng một người dốt, họ cứ ngày tháng như vậy cứ niệm, mỗi niệm đó đến một lúc nó không còn âm thanh, sắc tướng nữa. Chỉ có cái biết “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Cái biết đó nó ở khắp mọi nơi, khắp vạn niệm, nó không riêng cho một niệm tưởng nào cả. Thì ngay đó cũng có cái hằng biết chung cả thì ngay đó cũng có cái hằng biết chung chơn niệm đó. Cái hằng biết chung chơn niệm đó không có một ai làm chủ nó cả không hình danh, sắc tướng nhưng ở mọi nơi đều có nó cả thì không niệm thiện, không niệm ác, không vô ký, không có thời gian và không gian ở đó. Cho nên, nó thường niệm “úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Nó là như thế.

Buông bốn đại, đừng nắm bắt
Trong tánh lặng lẽ tùy ăn nuốt.
Các hạnh vô thường thảy toàn không.
Đấy tức như lai Đại viên giác


Cư Sĩ Thanh Hùng
Pháp Hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 10:13:52(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#8 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết
PHẨM 8








Chánh Văn:

Quyết định thuyết biểu chân tăng
Hữu nhân bất khắng nhiệm tình trưng
Trực thiệt căn nguyên Phật số ấn
Trích diệp tấm chi ngã bất năng .


Dịch Nghĩa:

Dám nói chắc là chân tăng .
Nếu ai chẳng nhận hỏi mặc tình
Chặt thẳng cội nguồn Phật đã ấn
Chọn lá tìm cành ta chẳng kham



Dám nói chắc là chân tăng .
Nếu ai chẳng nhận hỏi mặc tình


Đây là một lời nói thật chắc chắn, sư Huyền giác Ngài đã chứng ngộ đã thể nhập được thanh tịnh, tự tánh của mình. Thấy được sự thật thường có, ngài đã có cái biết chân thật ấy trong từng pháp, từng giác niệm. Ở trong mọi thời gian, không gian. Ở bất cứ nơi nào trong muôn loài Ngài đều thể hiện ra. Thân ngài là cái “ Chân thật biết” đó. Dù cao thâm vi diệu dù thấp hèn đến đâu, dù nhơ, dù sạch, dù có tình, dù vô tình. Ngay chỗ đó, cũng có cái chân thật biết đó. Nếu không có cái chân thật biết đó thì thế gian vạn pháp này mất đi cái chân thật biết đó vẫn hằng có.

Một người mù đã hỏi:

- “ Ông có thấy gì không ?
- Ông ta tự nhiên bảo rằng tôi không thấy gì cả chỉ thấy tối thui không.

Ông ta không thấy gì cả nhưng ông đã có thấy tối thui. Cái thấy, cái biết nó luôn ở khắp mọi nơi. Khi người ta hoàn toàn không sở hữu, không chấp dính vào một pháp nào cả thì chân thật biết sẽ thể hiển hiện. Cái thân biết lúc đó nó ở khắp mọi nơi, chỗ nào cũng có nó và nó “Duy ngã độc tôn’’. Cái đó nó cũng thể hiện qua kinh Niết bàn gọi là thường, lạc, ngã, tịnh, bốn tướng của Niết bàn. Niết bàn đây nói lên sự chứng ngộ đạt đạo nhưng không bao giờ đạt đạo cả. Vì không có một pháp nào hay lý sự nào mà không có nó cả, sự rộng lớn đó giả gọi là Đại ngã. Đức bổn Sư thích ca mâu ni, khi Ngài Đản sanh Ngài đã thốt “Thiên Thượng Thiên Hạ, Duy Ngã Độc Tôn”. Ngài đã chân thật biết là đại ngã thường, lạc, ngã, tịnh đó. Ngài mượn lời nói đó để biểu tượng, biểu hiện ra cái hằng có đó là ở đó. Ngay đó không có một vật nào dính mắc vào đó, không có một pháp nào ở đó cả. Cho nên, nó “Độc tôn”. Ở thế gian, vạn pháp bảo rằng Ngài là con người ngã mạn, tự cao, ngã mạn, tự cao, tự đại. Khi họ thốt lên lời nói đó là họ hoàn toàn dính vô số niệm tưởng Pháp. Họ dính vào sự chấp ngã, chấp pháp. Nó đi nghịch với con đường lời nói của Đức Phật . Đức Phật bảo rằng tất cả vạn pháp đều do duyên hợp, giả có, luôn cả cái biết duyên hợp, giả có. Luôn cả cái biết duyên hợp, giả có đó cũng không luôn.

Trong Nhà thiền có một câu chuyện của Thiền Sư Từ Hồ. Ông thường treo tấm bảng ghi rằng : “Từ Hồ có một con chó, trên cắn đầu người, ở giữa cắn lưng người, ở dưới căn chân người, vừa nghĩ ngợi là táng thân mất mạng”. Mỗi ngày khi có ai đến tìm Ngài để học thiền, Ngài đều quát bảo “ Coi chừng chó dữ”. Nếu những người đến mà suy nghĩ phân biệt là Ngài đi vào phương trượng. Đây là câu chuyện thiền nói lên sự phá chấp. Không dính một pháp nào cả mà ngay đó tạm mượn là trực giác chỉ biết rồi cứ vui, tự tại. Vì muôn pháp mình đã biết nó là giả hợp, giả có. Và ngay đó, cái biết không phân biệt là thân, thì cái nào ngay đó theo đuổi dính mắt đâu có phải là “Duy Ngã Độc Tôn” không.

Nhân dịp kính mừng phật đản, cuộc đời này xin làm những đóa hoa sen ngọc sáng cho Đức Thế Tôn bước lên để âm vang mãi “Thiên thượng thiên hạ duy ngã đôc tôn” muôn thuở.

Cách Đức Phật bao nhiêu thời gian cũng có một vị, một nhà sư Huyền giác cũng đã thốt lên : “Dám nói chắc là chân tăng, nếu ai chẳng nhận mặc tình”. Lời nói như vậy đã đời và muôn thưở âm vang đó sẽ vang lên mãi trong vạn pháp.

Và hôm nay, Tâm Mật cũng vang lên âm thanh muôn thưở “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Trong tâm sâu thẳm mật nhiệm đó, nó luôn luôn vang lên vọng lên trong từng, giác niệm “biết”. Khi người hành giả ngồi tỉnh giác, tỉnh lặng để từng niệm tưởng trong đó vang lên để biết từng niệm tưởng đó. Khi người hành giả đã biết như vậy rồi thì nên biết những niệm tưởng đó đều vang lên “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Mới đầu chúng ta biết của sự thô nghĩa là nghe cái biết đó đủ chín chữ âm “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Lần lần về sau khi tâm ta định từ từ lúc đó nó vang lên rất nhỏ nhẹ vi tế nhưng cũng nghe đủ âm thanh thần chú cả. Mỗi khi nghe âm thanh, biết âm chú đó trong từng giác niệm thì ta luôn luôn lúc nào cũng có cái biết đó. Cho đến, lúc ta có cái hằng biết đó, tích tắc ngay đó đừng suy nghĩ gì cả. Thì chúng ta sẽ an lạc. Cái biết hằng có đó là thường không gì nhiễm ô là lạc, trong từng giác niệm đều có là ngã. Nhưng không một pháp nào là dính mắc cả gọi là Tịnh. Bốn cái thường, lạc, ngã, tịnh. Hai con đường trên danh tự nó là khác – thiền (Hiển giáo), Mật. Nhưng hai cái này không thể thiếu nhau, phải song hành Hiển mật viên thông làm cho lý sự viên thông. Cho nên, những tác phẩm Bát nhã, kim cang, chứng dạo ca mong rằng chúng ta hãy quán soi nó để trên bước đường tu học được nhiều thuận tiện.

Phài nhìn thấy vạn pháp giả hợp, không thật tướng để chúng ta không đắm, si mê, tham, sân, si mà khởi tâm tu thần chú cho tốt. Ta ham muốn sự tu thành trụ, ham muốn thần thông mà không có giáo lý Hiển giáo để nhìn rõ tướng tham đó thì ta đặt nặng sự tu hành của mình trên sự tham, si, mê. Nếu được một chút do vọng tâm, vọng khởi bèn cho đó là thành, trụ rồi vui, không được thì sinh ra buồn chán rồi bỏ tu. Rồi lại đi nghe Thiên cơ nói người này có thiên mạng, người kia không có thiên mạng, mê muội. Đức Phật bảo rằng : “Ai cũng có Phật tánh cả. Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Như vậy, thì ngay ở mỗi người, chúng ta đều có sẵn cái tự tâm thanh tịnh cả. Chúng ta hãy tự quay về với bản tâm của mình đi. Hãy nhẹ nhàng với những gì cho là tốt, là xấu, hãy sống vui vẻ hằng ngày, hằng giờ với “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Đừng biết thêm gì nữa, đừng nghĩ gì nữa, hãy sống thật vui vẻ với câu hát Thần chú đó đi chỉ một thời gian rất ngắn thôi con đường an lạc, hạnh phúc sẽ thể hiện, chỉ một pháp, một người độc hành ra đi. Hành trang chỉ có câu “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Cho đến một ngày, hành trang và con người đều biến mất khi mọi sự như là ……Như thị.

Bồ đề vốn không soi
Gương sáng cũng chẳng Đài
Xưa nay không một vật
Chổ nào dính Trần ai

.
Lục Tổ


Cư Sĩ Thanh Hùng
Pháp Hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 10:22:23(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#9 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết
PHẨM 9





Chánh Văn:

Mani châu nhân bất thức
Như lai tạng lý thân thâu đắc
Lục ban Thần dung không bất không
Nhất lỏa viên quang sắc phi sắc.



Dịch Nghĩa:

Ngọc mani, người chẳng biết
Như lai kho ấy mình thâu được
Sáu đường thân dung không chẳng không
Một điểm sáng tròn, sắc chẳng sắc.




Ngọc Mani là ở đây Ngài nói đến tự tánh thanh tịnh mỗi người ai cũng có ngọc đó. Nó luôn luôn đi, ở trong từng giác niệm, trong mọi hành động. Khi chúng ta động chuyển thì nó quán soi lên sáng như ngọc và trong thanh tịnh nó cũng từng chiếu soi. Viên ngọc sáng này nó biết đi, biết nói, biết soi thấy tất cả, biết giảng kinh, biết thuyết đạo tùy ý, tự do tự tại, không một vật che lắp nó. Ngọc này nó có trong từng cá nhân mọi người nhưng vì chúng ta bị mê mờ, vô minh, chạy theo những vọng tưởng.

Trong cuộc sống, mỗi ngày, mỗi giờ, từng thời gian nhỏ nhiệm nhất cũng do ngọc đó sáng soi. Nó là cái biết thường hằng của ta. Nó không có phân biệt tốt xấu, sáng tối nhơ sạch gì cả. Nó luôn luôn chiếu soi thể hiện tự tánh thanh tịnh, người tỉnh giác. Họ không dính mắc chấp giữ một chi tiết vấn đề nào hay một pháp nào cả. Họ luôn sống bình đẳng trung đạo mặc cho sắc tướng vọng niệm xung quanh. Họ phát khởi mà họ không có chấp giữ một vấn đề nào cả. Rất thoải mái tự do ra vào trong vọng niệm. Vì họ luôn biết tất cả các pháp đều do duyên hợp giả tạo. Họ không nặng nề tự cảm xúc phân biệt bên trong bên ngoài. Nó biết như viên ngọc sáng kia sáng soi, sáng trong ngoài rất rõ rang. Ánh sáng đó nó không phân biệt nhơ sạch, thiện ác không năng sở, không người, không ta, không pháp. Vì chính tất cả những giác niệm vạn pháp đều là ánh sáng đó cả. Người tu về Mật chú Chuẩn đề “Úm chiết lệ, chủ lệ, chuẩn đề, ta bà ha. Bộ lâm” cũng xông ướp thần chú Chuẩn đề trên tất cả sự vật như vậy. Hành giả phải biết ánh sáng mang “Úm chiết lệ, chủ lệ, chuẩn đề, ta bà ha. Bộ lâm”. Chín âm này ở mặt thô chúng ta không thể quán nó từng âm thánh như vậy mà chúng ta chỉ biết, cái biết Thần chú “Úm chiết lệ, chủ lệ, chuẩn đề, ta bà ha. Bộ lâm”. Chín âm phạn đó phải được rút gọn trong thời gian sát na, nghĩa là thời gian trong tích tắc đó người hành giả phải biết chín âm “Úm chiết lệ, chủ lệ, chuẩn đề, ta bà ha. Bộ lâm”. Một thời gian ngắn nhanh như vậy chỉ có con người tỉnh giác trong tích tắc đó biết chín âm đó bằng cái biết đó thì thân của mình không còn nữa ngay trong thiền định đó mà lúc đó cái biết đó là thân của mình. Mà là thân biết như vậy thì cái thân biết cùng thần chú Chuẩn đề là một và nó ở khắp mọi nơi. Ngay nơi đó cái biết cũng không còn nữa, để không còn cái cảm xúc của thân ý nữa.

Đạo Thiền gió thoảng mây bay
Xuân thu vạn dặm dấu giày nào in


Ở đây, không còn dấu vết nào cả để cho viên ngọc tự tánh thanh tịnh soi sáng.

Sáu đường Thần dụng không chẳng không
Một điểm sáng tròn sắc chẳng không


Viên ngọc tự tánh thanh tịnh sáng soi như vậy ở đâu cũng có trong vạn pháp. Viên ngọc như ý như vậy thì nó đầy đủ công đức diệu dụng không thể tính lường. Ngay nơi sáu căn, sáu cửa đó là sáu đường Thần quang, sáu đường Thần dụng luôn phóng ra diệu dụng viên tròn trong vạn pháp ngay nơi nhãn căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn chạm vào sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Khi chạm vào như vậy mà không chấp vào các tướng tức là không có nhãn thức đề phân biệt tốt, xấu….Nhĩ thức không phân biệt lớn, nhỏ, thiện, ác, tỷ căn chạm vào vị cũng không phân biệt luôn cả thân ý cũng vậy thì cái diệu dụng của nó rất vi diệu không dính vào một tướng nào. Nhưng chỗ nào tướng nào cũng biết cho nên Ngài nói: “ Sáu đường Thần dụng không chẳng không - Một điểm sáng tròn sắc chẳng được”.Không dính vào một tướng nào cả nhưng từng giác niệm, từng tướng nào cũng biết. Nó thể hiện lên “Không chẳng không”, “Sắc chẳng sắc”.

Qua nội dung trên, chúng ta thấy trong mỗi người chúng ta ai nấy cũng có cái Phật tánh thanh tịnh đó. Khi người hành giả tu trì phải biết nhận cái thể biết đó, phải hết sức khéo léo trong tu tập thể nhập hòa tan với cái đó. Như vậy được thì người hành giả sẽ là những vị Bồ tát đi thỏng tay vào chợ độ sanh không bị các pháp vướng bận. Đi vào chỗ ràng buộc nhất để hóa giải những sự ràng buộc đó tự độ sanh. Lúc đó người hành giả sẽ tùy duyên mà hóa độ. Họ sẽ được tự do sử dụng các pháp để độ sanh. Vì họ không dính mắc vào một pháp nào cả. Cho nên, họ sở hữu được vạn pháp. Ở đây, nói đến cơ duyên, tùy duyên hóa độ. Nghĩa là gặp duyên nào thì tùy duyên mà độ sanh, thực hiện các pháp một cách thiện xảo.

Thiên sư Vân Nham đến chỗ Qui sơn, qui sơn hỏi:

- “Nghe nói là trưởng lão ở chỗ Dược sơn biết làm Sư Tử múa phải không?”.

Vân nham thưa:

-Dạ phải.

Qui sơn hỏi:

- “Vậy thường múa hay có khi nghĩ?”

Vân Nam thưa:

- “Cần múa thì múa, cần nghĩ thì nghĩ”

Qui sơn hỏi:

- “Vậy khi nghĩ thì sư tử ở chỗ nào?”

Thưa:

- Nghĩ, nghĩ!

Cũng như cậu chuyện trên, nếu sống tu học lúc có duyên thì múa, không duyên thì nghĩ., tùy duyên mà múa.Khi cần múa chúng ta cũng thấy nghe, hiểu biết. Khi duyên đến đối duyên thì thấy nghe, hiểu biết tức là lúc đó sư tử múa. Còn hết duyên thì nghĩ. Nhưng trong câu chuyện này, Ngài Qui Sơn hỏi một câu thật là hóc búa. Nếu người không chứng ngộ tự tánh thanh tịnh thì khó mà trả lời được. Ngài hỏi Vân Nham “Khi nghĩ thì sư tử ở đâu?”. Thật là vui khi người hành giả tu học được những bậc đại trí thức hỏi như vậy. Nếu chúng ta còn tỉnh thức, còn sự suy tính phân biệt theo nội dung, tình tiết (chấp pháp) thì ngay đó che mất đi thời gian sát na trực tính phát khởi. Ngay chỗ đó, tức khắc không một niệm tưởng suy nghĩ gì cả, ngài Vân nham trả lời: “Nghĩ nghĩ!. Một sự kiện trực giác trả lời. Như vậy mới là đúng là “Viên ngọc Mani tự soi sáng” – ánh sáng trong suốt trong và ngoài. Nghĩ, nghĩ ! ngay đấy là sự sống, sự biết hoàn toàn không dính mắc gì cả.

Nghĩ nghĩ! ở đây không nói chỗ nào cả một sự động dụng không nơi chốn “Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm”. Một câu trả lời xứng với, tự tánh thanh tịnh. Nếu mà nói Nghĩ, nghĩ! Có chỗ nơi thì sẽ bị trần duyên, rơi vào duyên, còn có dấu vết, hình tướng thể hiện. Khi đã thể hiện tức là thấy rồi sẽ bị trần cảnh dẫn đi. Khi đã bị dẫn đi thì đâu có nghĩ.Người hành giả tu học phải thấy, hòa nhập ngay chỗ nghĩ đó mới vào được nguồn tâm. Người hành giả chúng ta phải biết nơi mình có viên ngọc Mani tự tánh thanh tịnh.

Đảnh lễ tam muội lớn
Chẳng cầu được Phật Đạo
Chẳng lễ cũng chẳng khinh
Tâm chẳng sanh điên đảo
Chẳng ngồi chẳng lười biếng
Chỉ ăn không cần ngon
Tuy hoãn mà không chậm
Tuy gấp mà chẳng thô
Nay con gặp chí tôn
Cúi đầu vâng Phật dạy.




Cư Sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 10:26:18(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
Quang Tue  
#10 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
Quang Tue

Danh hiệu: Newbie

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 0

Được cảm ơn: 2 lần trong 2 bài viết
Cảm ơn thầy.

Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm
ThanhHung  
#11 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết
PHẨM 10





Chánh Văn:


Tịnh ngũ nhãn đắc ngũ lực
Duy chứng nãi tri nan khả trắc
Kinh lý khán hình kiến bất nan
Thủy trung tróc nguyêt tranh niêm đắc.




Dịch Nghĩa:

Tịnh năm mắt, được năm lực.
Chỉ chứng khó hay khó lường được
Trong gương xem bóng dễ thấy hình.
Đáy nước mò trằng nhọc công chắc.



Đây là một bài thơ ngài Huyền giác nói lên ngũ nhãn do sự tu tập của hành giả từ nhục nhãn thô đến sự mở năm mắt trong sạch, thanh tịnh. Cũng đôi mắt thịt nhưng khi con người tu học thanh tịnh thì có cái thấy biết sâu nhiệm, soi thấy vạn pháp ngay thật tướng của nó.Như vậy, khi người tu đạt đạo họ sẽ mở sáng năm mắt, thấy suốt cội nguồn mà những người thường không thấy được. Trong bài viết này, xin tạm mượn lời kinh trong "Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận " của Thiền Sư Tuệ Hải để diễn thuyết về năm mắt:

1.Thấy sắc thanh tịnh gọi là nhục nhãn. Con người bình thường của chúng ta thấy sắc là nhiễm sắc, bị nhiễm ô. Còn thấy sắc thanh tịnh, ngay mắt thịt, thấy sắc mà không nhiễm sắc, không mê lầm thì đó là được con mắt thịt thanh tịnh.

2. Thấy thể thanh tịnh gọi là Thiên nhãn: Tức là con mắt của cõi trời thấy suốt qua mọi hình tướng mà lìa tướng gọi là thấy thể thanh tịnh. Như vậy là được Thiên nhãn tinh tức là mắt trời thanh tịnh. Con mắt của chư thiên các cõi trời thường thấy suốt những vật ngăn ngại nhưng cũng chưa được gọi là thanh tịnh vì đây cũng còn mê.

3. Đối các cảnh sắc thiện ác đều hay phân biệt vi tế, không nhiễm trước cảnh ấy được tự tại gọi là Tuệ nhãn. Tuệ nhãn là con mắt tuệ, tức là thấy thấu qua tướng phân biệt không ngăn ngại, có chỗ nói thấy được lý không các pháp gọi là Tuệ nhãn.

4. Thấy mà không có chỗ thấy gọi là pháp nhãn: Thấy suốt qua các pháp sai biệt. Có chỗ gọi là thấy sự sai biệt của các pháp tùy cơ giáo hóa chúng sanh tùy bệnh cho thuốc gọi là pháp nhãn.

5. Không thấy mà không không thấy thì gọi là Phật nhãn: Phật nhãn là thấy suốt tất cả mà không có dấu vết gì để thấy cho nên gọi là không thấy mà không chẳng thấy. Tức là thấy suốt tất cả.

Trong ngũ nhãn này, chúng ta sẽ thấy sự tu hành theo từng cấp độ khác nhau. Từ ngay chỗ nhục nhãn bình thường chỉ thấy sắc là nhiễm sắc. Thấy cành hoa, ngay chỗ đó nảy ra ý phân biệt hoa đỏ, hoa trắng xanh đủ màu. Rồi từ ngay chỗ phân biệt đó sanh ra cảm xúc thọ cảm. Thích thì vui, không thích thì buồn thất tình sẽ tràn ngập che đậy cái thấy suốt soi. Còn con người có tu học sẽ nhìn thấy ở cấp độ cao hơn một chút. Họ nhìn thấy trong cánh hoa đó do đất, nước, gió, lửa, do công của con người , do ý thức hệ từ quá khứ, hiện tại, vị lai kết hợp thành. Rồi từ đó giả danh cho đó là hoa đỏ, hoặc hoa hồng, tốt xấu, do chủng nghiệp đó tự đạo diễn chứ thật ra không có cái chủ thể nhất định. Người thấy như vậy thì gọi là có nhục nhãn thanh tịnh.

Từ chỗ thấy các tướng duyên hợp không thật thể như vậy mà tâm thanh tịnh, không nhiễm sắc tướng. Mọi ý niệm khi thấy đều không dính mắc. Thấy như vậy gọi là thấy thể thanh tịnh gọi là Thiên nhãn. Khi chúng ta thấy các sắc thiện ác, tốt, xấu đều do duyên hợp cả. Bản thề của nó đều thanh tịnh. Khi đối trước tất cả các duyên đều biết rõ nhưng không phân biệt nhiễm ô. Không dính vào tất cả các pháp đều biết, đều soi sáng nó. Đối trước những cảnh, pháp tướng đều tự do lui tới thanh thoát. Khi thấy một cành hoa, ta vẫn thấy nó rõ rang từ tướng đến sự chuyển biến sinh diệt nó. Thấy đó là hoa hồng tướng do duyên hợp. Do tập khí, ý thức hệ tạo cho nó cái danh hoa hồng. Rồi nó tốt đẹp, rồi một ngày nào đó nó hoại. Trong chuỗi sinh diệt đó, ta thấy rất rõ rang là nó không có mất mà nó được chuyển biến từ thể này sang thề khác. Từ cành hồng đẹp đến tàn rụi. Những khí chất đó được bốc lên thành mây, rồi mây thành mưa tưới tẩm xuống hạt giống hoa hồng và vạn vật sinh nở tiếp. Nghĩa là tuệ nhãn ta nhìn thấy những chuỗi sinh diệt giả có vi tế bên trong vạn pháp.

Thấy mà không có chỗ thấy gọi là pháp nhãn. Khi thấy được những chuỗi sinh diệt của vạn pháp thiện ác rồi soi thấy đến sự duyên hợp giả có của nó rồi. Thì khi đó, người hành giả cùng cái thấy đó cũng không có nữa. Vì nó cũng không thật thể, không tướng thấy, không ngã, không pháp. Mọi vật đều có tánh thấy hằng có. Thì đó, không có năng kiến cùng sở kiến, cái nhìn thấy và vật bị thấy mọi cái đều là cái tánh thấy cả. Thì đó gọi là pháp nhãn, cái thấy biết cùng vạn pháp là một. Không thấy mà không không thấy thì gọi là Phật nhãn. Ở đây, cái thấy biết cùng vạn pháp là một. Và ở đây, tánh thấy thanh tịnh đã hằng có từ vô thủy, vô chung đã thể hiện rồi thì mọi vấn đề vọng niệm để thấy hay bất cứ một niệm tưởng nào, một pháp nào đều chẳng phải cả vì “Bản lai vô nhất vật”. Ở đây, chỉ không thấy, không không thấy bặt tất cả sự thấy biết.

Người hành giả từ sự tu hành nhìn soi thấy như vậy rồi. Họ biết rõ căn cội của vạn pháp từ đó trong tâm sinh ra những lực bền chắc tiến tu, làm cho người hành giả không thoái chuyển.

“Tịnh năm mắt được năm lực”

Năm lực ở đây tức là năm sức mạnh tín tâm phát khởi hình thành năm lực thúc đẩy hành giả tiến tu:
- Lực thứ nhất là "tín lực". Khi họ đã nhìn thấy căn gốc vạn pháp là huyễn hợp, không thật thể, thấy được bản tâm thanh tịnh thì ngay đó phát khởi được “tín tâm” mãnh liệt để tiến tu. - Lực thứ hai là “Tấn lực”; là sức mạnh luôn luôn thể nhập, huân tập tu hành. Vì khi đã thấy vạn pháp như vậy rồi.
- Lực thứ ba ở đây gọi là “niệm lực”. Niệm ở đây không phải như tâm mình thường niệm. Mà ở đây là tâm chuyên nhất luôn thường biết, không có một tạp niệm nào xen vào đó liên tục như vậy gọi là “Niệm lực”.
- Thứ tư là “Định lực”. Một sức mạnh an định, vững vàng. Khi họ đã quán soi vạn pháp thật rõ ràng không chủ thể nhất định do duyên hợp mà có. Từ đó, họ không dính mắc vào pháp nào cả. Cho nên, chuyên nhất, nhất niệm tạo thành niệm lực xuyên suốt, không thời gian, không không gian, không pháp ngay chỗ đó họ có một lực định vững vàng. Từ định lực vững vàng. Họ luôn luôn tỉnh thức, quán soi vạn pháp, quán soi cội gốc của vạn pháp. Biết rõ tất cả chỉ là một giấc mộng giả hợp.
- Và cuối cùng, ngay đó, họ quán soi được các pháp đều bình đẳng. Từ đó, tâm họ sáng suốt không bị mê lầm gọi là “Huệ lực”. Đó gọi là Năm lực.

Chỉ chứng mới hay khó lường được”.

Ngay đây, ngài khuyên ta nên tu học. Rồi chứng đắc tự biết ngay chỗ đó chứ thật tế ở danh tự ngôn ngữ chỉ năm mắt, năm lực không nói lên được sự huyền diệu của nó. Hãy vào đó đi bằng cái tâm bình đẳng.

“Trong gương xem bóng dễ thấy hình.
Đáy nước mò trăng nhọc công chắc
”.

Đây nói trong gương xem bóng mình. Nó sẽ in hình lên dễ thấy hình. Nghĩa là hằng ngày hãy tự xem gương soi thấy mình đi để tự thấy mình mà sửa lấy mình. Hằng ngày, tu tập quán xét các pháp, quán thân bất tịnh. Ngay nơi tâm mình mà thấy mà nhìn nó diễn biến để thấy các pháp thật tướng nó như thế nào. Từ chỗ tự quán xét mình ngay tức khắc đó, trên tinh thần tỉnh giác thì chúng ta ít bị vọng tưởng lôi cuốn. Và ngay đó, chúng ta sẽ nhìn thấy nó các tướng vọng tưởng, tham, sân, si. Ngay đây, chúng ta như một người chủ nhà nhìn xem hàng ngày, hàng giờ khách đến, khách đi, khách mang gì đến, mang đi những gì, khách đang làm gì. Khi những người khách đó có tâm xấu, người chủ như mình hòa nhã bảo rằng: “không cần chúng ta phải làm như vậy, đừng lấy, đừng bỏ những gì cả”. Vì quí khách đã có sẵn mọi thứ thì khi đó người khách điềm đạm tự do ra đi, người chủ lúc ấy chỉ mỉm cười. Ngay đây, người tu Mật chú Chuẩn đề, họ tỉnh tâm cho vang lên âm “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Khi mọi người khách đó đến, họ ai cũng nghe được âm thanh “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Những người khách đó, họ nghe từ từ tâm của họ được huân tập âm thanh hương thơm Chuẩn đề đó. Khi họ đến, những đồ đạc, vật dụng mang theo hay hoặc khi họ đi những đồ vật dụng tuy khác muôn màu nhưng mỗi hiện vật khách đó đều được ướp hương “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”. Và những người khác đó đến lui ở ngôi nhà đó đến một lúc họ tự nói tôi và chủ nhà thì ra giống nhau chỉ có một hương thơm đó thôi. Thì ngay chỗ đó, khách và chủ ôm nhau. Và sự tới lui đi đứng chủ và khách không khác nhau. Rồi đến một lúc nếu đã là chủ khách như nhau thì làm ngôi nhà làm chi, hãy giở tung nó ra đi. Khi đó, bầu trời Chuẩn đề không gian bao la Chuẩn đề đều vang lên “Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm”.

Đấy là sự quay trở lại của chúng ta “Trong gương xem bóng thấy hình. Hãy tự soi sáng lấy mình”. Nếu không, chúng ta cứ mãi chạy theo vật vọng tưởng: “Đáy nước mò trăng nhọc công chắc”. Cứ mãi chạy theo bên ngoài. Cũng như lặn sâu xuống đáy nước để mò trăng, bắt trăng thì nhọc công thôi. Trăng ấy ở trên trời cao ta phải hướng nhìn về nơi ấy chứ không thể bắt trăng dưới đáy nước chỉ là những ảnh tử mê mờ, vọng tưởng, tưởng chừng như thật. Trăng ấy tròn sáng tức tự tánh thanh tịnh của mình nó không thể dùng một tác động, một pháp nào vọng niệm mà tìm bắt nó được. Vì tự tánh thanh tịnh nó đã có trước sự bắt được tham cầu. Nó đã có sẵn. Ngay đó, hãy trở về với tự tâm của mình thì ánh trăng mới sáng tỏ.

Tâm tự xưa nay tâm
Bổn tâm chẳng có pháp.
Có pháp có bổn tâm
Chẳng tâm, chẳng bổ tâm



Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 10:35:31(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#12 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết
PHẨM 11




Chánh Văn:

Thường độc hành, thường độc bộ
Độc giả đồng du Niết bàn lộ.
Điệu cổ Thần thanh phong tự cao.
Mạo tụy cốt cương nhân bất cố


Dịch Nghĩa:

Một mình đi, một mình bước.
Niết bàn chung lối cho người đạt.
Điệu xưa Thần nhẹ dáng thanh cao.
Xương cứng thân gầy ai để mắt



Mùa xuân mới đã đến, muôn hoa đua nở. Có ai đó bảo rằng đã là hành giả tu học rồi mà còn thấy xuân đến, xuân đi nữa sao?

Tay không cầm cán mai.
Đi bộ ngồi lưng trâu.
Người đi qua trên cầu.
Cầu trôi nước chẳng trôi


Mọi sắc tướng, hình danh, thời gian với con mắt của người tu chỉ giả mộng. Họ không đả động, không vấn vương, vướng bận vào. Vì họ đã hiểu tất cả chỉ là một sự duyên hợp giả có thôi. Từ những sự việc vạn pháp bên ngoài cùng những sự lăng xăng nổi lên trong tiềm thức, họ luôn nhìn thấy nó tỉnh giác, hóa độ từng niệm tưởng lăng xăng, từng chúng sanh trong đó.. Duyên đến họ biết, duyên đi họ cũng biết. Nhưng cái biết ấy nó không có ở đâu cả, không hình danh, không sắc tướng, không có trong ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai. Nhưng nó vẫn thường trụ, vẫn hằng có như bao giờ. Từ vô thủy, vô chung đến nay nó không mất, không vơi. Và hôm nay, nó cũng không có gì cả. Không một vật nhưng nó thực chứng biết hiện hữu trong từng giác niệm.

Đây là một vầng thơ: “Tay không cầm cán mai”.

Đâu có tay, đâu có người, cũng không có vật nhưng luôn biết trong từng sát na, luôn có trong vạn pháp, vạn vật, sở hữu tất cả. Cho nên, mùa xuân đền rồi đi thấy có sự đi, sự đến, sự còn, sự mất, đẹp, xấu nhưng không có vướng bận vào những sự vật nào cả. Vì trăm năm, vạn năm, Mùa xuân đến đi nó đã có sẵn “Thường biết” trong những cánh hoa. Người tu thì lúc nào, giờ phút nào cũng an lạc. Hoa lúc nào cũng nở. Hương vị của chân như nó có khắp mọi nơi mặc tình tự do lui tới không bị ngăn ngại. Cho nên, luôn luôn lúc nào cũng “Đi bộ ngồi lưng trâu”.

Họ cứ sống, đói thì ăn, khát thì uống, buồn ngủ thì cứ ngủ, du hí vui chơi ở tất cả mọi niệm tưởng. Tướng giận, tướng tham, sân, si, những cái gọi là đau khổ cũng chỉ là những trò chơi vui thôi. Họ du hí thần thông. Họ dùng sự vui đi tới, đi lui, lúc nào cũng an vui, thường, lạc, ngã, tịnh. Ở chỗ nào cũng vậy, ở đâu cũng như như thường biết.
Sống trong cảnh mà lòng không bị cảnh dẫn: “Người đi qua trên cầu, cầu trôi nước chẳng trôi”.

Người hành giả Mật chú Chuẩn đề luôn luôn lúc nào họ cũng thấy cái chơn niệm đó. Cái pháp thân đó nó không bao giờ niệm “Úm chiết lệ, chủ lệ, chuần đề, ta bà ha. Bộ lâm” nhưng luôn luôn lúc nào cái biết “Úm chiết lệ, chủ lệ, chuần đề, ta bà ha. Bộ lâm” cũng hằng biết như vậy. Pháp thân đó không bao giờ kiết một cái ấn nào cả nhưng nó là ấn “Đại không Thủ Ấn”. Ấn và chú này nó có sẵn trong từng giác niệm của vạn vật, vạn pháp. Người tu Mật chú Chuẩn đề, họ huân tập trong từng giác niệm. Khi mỗi mỗi niệm tưởng nổi lên trong tâm của họ. Ngay đó, họ luôn biết là “Úm chiết lệ, chủ lệ, chuẩn đề, ta bà ha. Bộ lâm”. Nhưng niệm tưởng đó không có, chỉ có người tu mới độc hành với nó, đi cùng với nó, hiểu cùng với nó:

Một mình đi, một mình bước.
Niết bàn chung lối cho người đạt.
Điệu xưa Thần nhẹ dáng thanh cao.
Xương cứng thân gầy ai để mắt


Ngay ở đây họ chỉ một mình bước, một mình đi. Vì vạn pháp cũng chỉ là những giác niệm “Úm chiết lệ, chủ lệ, chuẩn đề, ta bà ha. Bộ lâm”. Cứ bước đi, cứ sống an lạc, độc hành với thần chú đó. Ngay đó, không có cái tướng của “Tôi”, hoàn toàn mất dấu, âm thanh của thần chú “Úm chiết lệ, chủ lệ, chuẩn đề, ta bà ha. Bộ lâm” cũng tan hòa. Vạn pháp chỉ có cái biết độc hành, không pháp, không thân, không một pháp ở đó.

Niết bàn chung lối cho người đạt
Điệu xưa thần nhẹ dáng thanh cao


Điệu xưa là một sự quen thuần thục hòa tan với cái biết đó. Chỉ có cái thường biết không hình, không tướng, không niệm (Không niệm là không có niệm hai bên thiện ác lăng xăng). Vì không có một pháp nào dính mắt nên “Thần nhẹ dáng thanh cao”.Cứ như thế mà sống. Bề ngoài thấy thân gầy nhưng bên trong xương cứng ai để mắt. Một cuộc sống thật an lạc, vững chắc, tiềm tàng trong vạn sự, vạn vật.

Đây là thông điệp của Diễn đàn Tâm mật. Mượn lời thơ xưa để nhắn gửi một thông điệp từ trong Tâm Mật sâu thẳm của vạn vật, vạn pháp đang nổi lên, thể hiện lên để chúc quí đạo hữu mãi mãi có một “Mùa Xuân Di Lạc”:

Tay không cầm cán mai.
Đi bộ ngồi lưng trâu.
Người đi qua trên cầu.
Cầu trôi nước chẳng trôi

Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm

Xuân Nhâm Thìn, kính chúc Quí đạo tâm gần xa một “Mùa xuân an khang, Thịnh Vượng”!

Nhờ năng lực tâm chú của Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề giúp quí đạo hữu được chân hạnh phúc, thân tâm khinh an, trí huệ như hải, sự nghiệp, công danh, sức khỏe như ý.


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 11:11:55(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#13 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết
PHẨM 12







Chánh Văn:

Cùng Thích Tử, khẩu xưng bần
Thật thị thân bần đạo bất bần,
Bần tắc thân thường phi lũ hạt,
Đạo tắc tâm tang vô giá trân.


Dịch Nghĩa:

Hèn con Phật, miệng xưng nghèo,
Thật đấy, thân nghèo, Đạo chẳng nghèo.
Nghèo át thân thường manh áo vá
Đạo ắt tâm đầy vô giá châu.


Con người nếu đã quyết chí vào sự tu học để tìm được giải thoát thì thân tâm họ luôn luôn nhẹ nhàng, không vướng bận về vật chất, của cải, thân tứ đại giai không tùy duyên hóa độ. Ngày xưa, những vị tu đời khất sĩ chỉ chuyên có một thân mình hằng ngày ôm bình bát đi xin, tối về nằm một tấm phản bằng ván thông nhỏ thấp hẹp, căn phòng đơn giản không có một tiện nghi, phương tiện xe cộ vật chất gì cả.

Ngày xưa, tôi ở chùa Tịnh xá của quí vị Khất sĩ. Lúc đó Hòa thượng Thích Từ Huệ là một vị Hòa Thượng vẫn sống, một đời sống đơn giản, vài cái y áo, một tấm phản, một căn phòng nhỏ hẹp vài mét vuông, một cái bát, đi chân không đầu trần, không có tàng một vật chất của cải nào cả. Lúc đó, tôi đến đây để học thuốc, học nghành y học cổ truyền, sống một đời sống thảnh thơi cùng quí sư. Ngay đó, mặc dù thân có bệnh tật nhưng cuộc sống thấy rất thoải mái. Hằng ngày, ăn cơm chay đạm bạc, trưa chiều tồi vắng ngồi tu học, trì chú tâm an vui. Cuộc sống như thế, nó trải qua trong tôi một thời gian ba, bốn năm. Khi đó, hằng ngày kinh hành ngồi Thiền trì chú trong quanh cảnh, nếp sống như thế. Nó đã giúp tôi không tham cầu trong chuyện tu học, không si mê quá trong quyền năng pháp tu. Hằng ngày, sau công việc, buổi sáng cứu giúp bệnh nhân rồi mạnh ai nấy tu hành. Trong khoảng thời gian đó, tôi lặng lẽ cứ ngồi, cứ kinh hành, hằng ngày trì chú chuẩn đề trên 70, 80 xâu chuỗi. Cứ như vậy, cứ như vậy mà tôi bớt bệnh dần, tâm không có đau khổ vì đói, no, bệnh tật. Thật là một sự trợ duyên rất lớn trong đời tôi. Đây xin nói ra để biết lời nói của Ngài Huyền Giác là rất hay:

Hèn con Phật miệng xưng nghèo
Thật đấy, thân nghèo, đạo chẳng nghèo!


Thật đấy, con phật thì nghèo vì khi đã trọn hạnh tu giải thoát thì trong chuyện ăn ở. Mặc áo, ăn cơm nó không có làm cho người tu nặng nhọc nữa, áo rách rờn vai nhưng sạch, nhẹ nhàng. Buổi cơm dưa muối, nước lả, chăn giường đủ ấm. Như vậy, quá đầy đủ khiến cho đầu óc tâm thức không bị xáo trộn lo nghĩ những điều trên tâm thanh nhẹ nhàng, ánh trăng, cành liễu, đóa hoa suối. Những cái đó nó đến với người hàn sĩ trên như những món quà quí, thanh thoát. Nó đem lại sự an lạc, chân hạnh phúc. Ngay chỗ đó, cái vốn sẵn có đó không một ai là lấy cấp của mình cả. Cho nên, an nhàn tự tại, cửa nhà cũng không cần đóng lại, không lo mất trộm.

Nếu cuộc sống của người hành giả cứ tu trì, thể hiện hạnh tu như thế thì tâm ta từ từ sẽ xả đi sự tham đắm của ngũ dục, tiền bạc, danh vọng. Bớt đi những dính mắc vào tâm, bớt đi lòng ngã mạn mà tâm thanh tịnh tu học. Cứ nhẹ nhàng như thế, cuộc sống đơn giản, ăn uống đạm bạc. Mặc cho từng giờ, từng phút “Úm chiết lệ, chủ lệ, chuẩn đề, ta bà ha. Bộ lâm” hãy tự để cho nó nổi lên trong tâm ta. Cứ đến, rồi đi chỗ nào cũng có “Úm chiết lệ, chủ lệ, chuẩn đề, ta bà ha. Bộ lâm”. Được như thế, ngay đây, cuộc đời này cũng an lạc, vui vẻ thật sự. Ngay thật tại này, vẫn an lạc, vui vẻ, thật sự vẫn an lạc được, không cần đi đâu xa. Cứ như thế đến một ngày nào đó “Úm chiết lệ, chủ lệ, chuẩn đề, ta bà ha. Bộ lâm” trở thành vạn pháp. Ta và Thần chú cùng vạn pháp là một. Cái một đó cũng không còn thấy. Cũng như thế, ngày ấy cũng như thế! “Nam mô thất câu chi Phật Mẫu Chuẩn đề”

Chơn lý vốn không tên
Nhơn tên bày chơn lý
Nhận được pháp chơn thật
Chẳng chơn cũng chẳng ngụy”

“Nghèo ắt thân thường manh áo vá.
Đạo ắt tâm đầy vô giá châu”


Thân chúng ta nghèo, áo quần vá nhiều mảnh nhưng tâm an nhàn, trí huệ luôn soi thấu thấy tất cả Pháp chơn thật, không dính mắc vào một nhiễm tịnh, thiện ác nào cả luôn tâm an lạc, tự do, tự tại.

Những cái gì xung quanh ta nó đều nói lên vạn pháp thanh tịnh. Từ tự tâm thanh tịnh mà ra. Nó là một kho báu, một viên ngọc trân châu vô giá. Cứ đi viên ngọc đó cũng sáng, nói, ăn, ngủ. Mỗi cái đều chiếu sáng khắp mọi nơi, không bao giờ lu tắt cả. Đó là viên báu trân châu vô giá từ vô thủy, vô chung đến nay.


Mê ngộ như ẩn như hiện
Tối sang chẳng rời nhau
Nay trao pháp ẩn hiện
Chẳng một cũng chẳng hai


Tổ Phú Na Dạ Xa



Cư Sĩ Thanh Hùng
Pháp Hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 11:19:03(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#14 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết



Phẩm 13


Chánh Văn:

Vô Giá Trân, Dụng Vô Tận
Lợi Vật Ứng Cơ Chung Bất Lận
Tam Thân Tứ Trí Thể Trung Viên
Bát Giải, Lục Thông Tâm Địa Ấn


Dịch Nghĩa :

Vô Giá Châu Dùng Không Hết
Lợi Người Lợi Vật Nào Lẫn Tiếc
Ba Thân, Bốn Trí Thể Tròn Đầy
Tám Giải, Lục Thông Tâm Ấn Hiệp


Chúng sanh cứ mãi chạy lo theo ngũ dục, mong cầu sự lợi ích ở bên ngoài, không có những sự tự quán soi lại ngay tâm mình, cũng như người cũng tử cứ chạy tầm cầu hạnh phúc ở bên ngoài, mãi đến một lúc mới nhớ lại viên ngọc quí báu của mình ngay bên vạt áo. Ngay bài luận này Đức Huyền Giác cũng lại một lần nữa chỉ cho chúng ta thấy ngay tự tánh thanh tịnh của mình trong đó vô vàn châu báu, ngọc ngà quí giá. Hãy trở về với tự tánh thanh tịnh đó để ban tặng cho mọi người, mọi vật.

Chư Phật, Bồ Tát, Tổ Thầy trong vô lượng kiếp cũng đã từng bố thí phơi bày tất cả để chỉ bày cho chúng sanh hướng theo con đường chánh giác, quí ngài đã từng thệ nguyện ở lại thế gian vô lượng kiếp cho đến khi nào không còn một chúng sanh nào nữa, thì ngay nơi ấy nhập niết bàn. Trong vô lượng kiếp làm lợi ích chúng sanh như vậy, nhưng bản tâm thanh tịnh vẫn như nhiên đâu có hao mòn.

Vô Giá Châu Dùng Không Hết
Lợi Người Lợi Vật Nào Lẫn Tiếc


Ngài Huyền Giác dùng hai câu thơ trên để nói lên sự bố thí ba la mật – Sự bố thí không ngăn mé, từ bi vô bờ bến, nó khong còn nằm trong không gian và thời gian nữa, mà nó chỉ nằm trong bản tâm thanh tịnh của Quí Ngài thể hiện trí huệ chân thật. Trí huệ chân thật là của báu của tự tánh, tự tánh thanh tịnh đó nó có mãi từ vô thủy vô chung cho đến không có gì làm cho nó hoại diệt cả, nó đầy đủ tính kim cang. Cho nên nó đầy đủ của báu.

Đức Triệu Châu cũng đã từng nói: “Trước khi có thế giời là đã có tự tánh này, khi thế giới hoại tánh này cũng chẳng hoại”. Cho nên người tu trở về với tự tánh thanh tịnh này thì lợi người, lợi chúng sanh vô cùng tận.

Cũng trong bài luận này Ngài đưa ra: “Ba Thân Bốn Trí Thể Tròn Đầy”. Câu này cũng nói lên tự tánh thanh tịnh của mình, khi đã thể hiện tự tánh thanh tịnh rồi, thì “ Tám Giải Lục Thông Tâm Ấn Hiệp”.

Ngay đây chúng ta lần lần sẽ thấy ba thân hiện rõ thể hiện ra: Pháp thân – Báo thân - Ứng hóa thân – Tứ trí – Diệu Quan sát trí – Thành sở tác trí – Bình đẳng tánh trí – Đại viên cảnh trí. Tất cả những thân trí này nó cũng đều nằm trong tâm ta cả. Tất cả các pháp niệm tưởng đến lui tâm thanh tịnh không dính nhiễm, lời nói của Đức Lục Tổ Huệ Năng là: “ Có cả thảy sự vật là tâm, ly cả thảy sự vật là tánh”. Đó có phải pháp thân chúng ta không? Ngài Lục Tổ cũng nói: “ Pháp thân thanh tịnh là tánh của ông - Báo Thân Viên Mãn Là Trí Của Ông – Hóa thân ngàn trăm ức là hạnh là đại viên cảnh trí”.

Qua những ý niệm trên chúng ta thấy trong phép tu mật chú Chuẩn Đề - Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm. Khi người hành giả chuyên tu sâu kín miên mật cũng sẽ thể hiện tam thân tứ trí, khi tất cả những vọng tưởng mọi vật, mọi ý niệm đến trong tâm ta, hay nói đúng hơn trong quá trình tu học trì niệm: Úm Chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm. Những vọng tưởng ý niệm đó nó lóe lên chuẩn bị đạo diễn, dẫn tâm thức ta đi lung tung, thì ngay đó ta hãy lắng nghe thấy ngay niệm tưởng đó thể hiện lên: Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm. Tu như vậy một lúc ý niệm mật chú Chuẩn Đề sẽ từ từ hóa giải niệm tưởng trên. Khi tất cả trong tâm ta những niệm tưởng đã được hóa giải thành : Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm, thì ngay lúc đấy mọi việc đều bình đẳng. Đó là Diệu quan sát trí. Đã quán soi tất cả sự vật không còn phân biệt nữa, mọi ý niệm đều bình đẳng thì ngay đấy Thành Sở Tác Trí – Bình Đẳng Trí. Đến khi mọi vọng niệm và mật chú Chuẩn Đề là một, thì ngay nới đó là Đại Viên Cảnh Trí. Một sự sáng suốt viên tròn vô bờ bến. Khi bốn trí đã thể hiện như vậy rồi thì Pháp thân thanh tịnh, tức là đã trở lại với chính bản tánh thanh tịnh của mình, khi đã trở về với bản tánh thanh tịnh của mình rồi, thì tất cả vạn niệm, mọi vật vạn pháp đều hóa thân của mình, vì chỗ nào có cái thể hiện của cái biết của mình ở đó “ Hóa thân ngàn muôn ức là hạnh của ông”, và tất cả đều trở về với bản thân thanh tịnh, vạn niệm, vạn vật, vạn pháp đều lợi ích cho chúng sanh cả gọi là báo thân.

Còn 8 giải tức là bát giải thoát.

1. Trong có sắc tưởng, ngoài quán sắc để giải thoát trong tâm ta ngày đêm tơ tưởng đến sắc dục, ngũ dục, tất là bên trong có sắc tưởng. Để trừ cái này Phật pháp đã đưa ra những phép quán bất tịnh, như thân hư hoại thành vòi dục dơ bẩn, sanh, lão, bệnh tử để chán sợ cái thân kia mà tu học giải thoát.

2. Trong không sắc ngoài quán sắc để giải thoát, ở giai đoạn này người hành giả chuyên tu ở bên trong bỏ được sắc ngũ dục. Nhưng với tập nghiệp nhiều đời nó dính trong căn trần, khi chạm sắc lòng lại nổi lên tham động si mê. Cho nên ở đây nói là quán những sắc ở bên ngoài đó làm cho thấy được sự hòa hợp, giả hợp, nhơ nhớp thì mới bỏ được mà tu học.

3. Tịnh giải thoát thân chúng cu túc trụ:
- Ở trên thì dạy ta quán bất tịnh để tu học. Còn ở đây dạy ta quán tịnh lại để tu giải thoát, có nghĩa rằng những phép quán kia cho ta thấy thân tâm bất tịnh rồi, nhưng ở đây đừng chấp dính vào hình ảnh phương pháp kia mà lầm cho tâm mình động. Hãy thấy tất cả đều là giả hợp không nhất định gì cả. Sắc tức thị không, không tức thị sắc.

4. Không vô biên xứ giải thoát:
– Tức là ngay tâm thức này, chúng ta tu tập nhưng đừng dính mắc vào pháp, vào sắc nào cả. Lướt bỏ nhẹ nhàng trên sắc và sự tưởng tượng của mình. Ngay nơi đây không có sắc cũng không có tưởng đối tượng gì cả.

5. Thức vô biên xứ giải thoát:
– Ngay nơi đây hành giả tiến lên thêm sự quán soi bỏ đi, tức thì ngay đó cái tâm không vô biên đó để chỉ tiến vào thức vô biên.

6. Vô sở hữu xứ giải thoát:
- Phương pháp tu càng ngày càng lúc xả bỏ đi những gì chúng ta đã đến, tiến lên bước nữa là xả bỏ đi tâm thức vô biên để vào vô sở hữu xứ giải thoát. Từ ngữ ở đây rất phức tạp, phương pháp tu cũng vậy, người hành giả ở những bậc này hãy luôn tỉnh giác niệm: Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm. Niệm mà không niệm để cho tất cả an nhiên, để cho cái an nhiên đó nó niệm.

7. Phi tưởng phi tưởng xứ giải thoát:
– Ngay đây cũng quên đi cái an nhiên, tự niệm: Úm chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Bộ lâm. Mặc dù bỏ vậy nhưng cũng có cái biết tự niệm vi tế trong đó. Cho nên cũng chưa đạt gì giải thoát.

8. Diệt thọ tưởng định thân tác chứng cu túc trụ:
- Tức cái mức thứ 8 này là vượt qua phi phi tưởng, bỏ đi thọ, tưởng để vào diệt tận định giải thoát. Ngay nơi đây cái tâm của mình cũng diệt, tâm sở cũng diệt thành tựu giải thoát.

Qua những chi tiết trên, trong bát giải thoát kia cũng nằm trong tâm ta cả, tất cả pháp đều trong tâm.

Sáu thông là:
1. – Thiên nhãn thông: Con mắt của cõi trời thấy không ngăn ngại.
2. – Thiên nhĩ thông: Tai cõi trời nghe không ngăn ngại suốt từ xa.
3. – Tha tâm thông: Rõ thấu tâm người.
4. – Túc mạng thông: Nhớ lại những kiếp sống về trước
5. – Thần túc thông: Xử dụng năng lực bay nhảy biến hóa.
6. – Lậu tận thông: Sạch hết phiền não.
Tất cả 6 thông kia cũng nằm trong tâm ta.

Bài viết này của Ngài Huyền Giác nói là tất cả pháp cũng đều nằm trong tâm tánh thanh tịnh, không ngoài tự tánh, tự tánh thanh tịnh nhưng đầy diệu dụng. Cho nên nó là kho báu vô giá.

Chuyển mình một nhảy khỏi lửa vòng
Muôn việc đều không vào mắt không
Ba cõi thênh thang tâm sáng rỡ
Vầng trăng Tây lặn, nhật lên Đông


Tuệ Trung Thượng Sĩ




Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 11:27:18(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#15 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết


PHẨM 14



Chánh Văn:

Thượng Sĩ Nhất Quyết Nhất Thiết Liễu
Trung Hạ Đa Văn Bất Tín
Đản Tự Hoài Trung Giải Cấu Y
Thùy Năng Hướng Ngoại Khoa Tinh Tấn


Dịch Nghĩa:

Bậc Thượng Một Quyết Xong Hết Thảy
Trung Hạ Nghe Nhiều Ngờ Vực Mãi
Áo Bẩn Trong Lòng Hãy Vứt Đi
Khoe Chi Tinh Tấn Bên Ngoài Ấy


Ở đoạn kinh luận này đức Huyền Giác nói ngay nơi tâm của một người hành giả tự quán soi chứng đắc tâm mình, thấy những điều chân thật trong đấy. Khi mọi điều giả hợp đã phơi bày “ Tri huyễn tức ly huyễn” bậc thượng nhân là lấy Trí huệ chân thật đó để soi thấy các pháp, nhìn thấy sự chân thật của nó, qua hình thấy từng chi tiết một của các pháp huyễn hợp giả có không có thật tướng của nó. Ngay nơi đó trực chứng, trực ngộ bằng cái biết chân thật của nó. Cái biết chân thật đó trải rọng trên toàn bề mặt của vạn pháp, vạn hữu, trong ngoài, trên dưới, mọi sự mọi vật đều bình đẳng. Khi cái tâm đó đã thể hiện trong người hành giả, thì tùy duyên mọi vật, mọi pháp đến đi nó trực nhận nhanh chóng, biết chân thật không phân biệt đắn đo suy nghĩ, vì đắn đo suy nghĩ nó thuộc ở tình thức phân biệt.

Bậc Thượng Một Quyết Xong Hết Thảy
Trung Hạ Nghe Nhiều Ngờ Vực Mãi


Đó 2 câu trên dẫn chứng cho chúng ta thấy ngay ở mỗi cấp độ tư tưởng tu học khác nhau, ở đây tạm mượn Thượng, Trung, Hạ để phân biệt chứ thật ra đạo không còn cái chỗ cao thấp, thượng hạ sai biệt. Mượn văn tự ngữ ngôn đó để thể hiện sự chứng ngộ sai biệt trong nội thức, tâm thức thể hiện ra. Người trở về với bản tâm thanh tịnh, người luôn luôn nhạy bén trong từng sát na, sanh diệt, vì họ nhạy bén ở hai bên sanh và diệt. Cho nên họ không có sự sanh diệt bao giờ, nên mọi vọng niệm đều nhanh nhạy bén, vì ngay đó cái biết đó đã hằng có bao giờ rồi, chứ không phải do sự tu chứng mà có. Sự nhạy bén ở đây, nó không có thời gian và không gian, sự nhanh bằng sát na rất nhỏ, và sự sát na thời gian tạm mượn đó gọi là liễu ngộ. Một sự hằng biết có từ bao đời, do vô minh che lấp bao đời, nay liễu ngộ vô công dụng đạo, không bằng một tác động, động thái nào mà hình thành nên sự liễu chứng đó cả.

Có những vọng tưởng nào mà đến ta không biết chăng? Tuy là vọng tưởng nhưng bao giờ cũng biết cả, nếu ta tỉnh giác ta sẽ biết ngay nơi đó có cái biết vọng động sanh diệt. Người hành giả ngay nơi đây chỉ biết vậy thôi, không vọng động sanh diệt, mà người hành giả chúng ta hằng biết lặng lẽ thanh tịnh, không động không phân biệt, cáo biết hằng lặng lẽ thanh tịnh không động sanh diệt đó là cái nhân của Phật. Ngay nơi đây sự tu học của ta càng ngày cái biết đó càng sáng suốt viên mãn, thì quả Phật sẽ thể hiện ngay tâm thức đó, ta hãy khách quan mà quán soi nơi mình coi cái biết hằng có nhân Phật đó ở nơi đâu? Như khi chúng ta ngồi chơi con kiến, con muỗi, con ong nó đốt cắn ta, nó chích ta. Ngay giờ phút đó ta vẫn biết chứ, biết rõ ràng. Như vậy ở bất cứ nơi đâu trong da thịt, thân thể ta cũng đều có cái hằng biết rõ ràng, nó có sẵn bao đời rồi. Nên khi cái gì chạm đụng tới nó đều biết cả, nếu ngay nơi đây chúng ta ngồi yên, đứng yên không cử động, không tác động gì cả thì ngay nơi đó, mắt chúng ta có thấy không? Thấy rõ ràng. Tai có nghe không? Cảm xúc có biết không? Mọi điều thể hiện rất rõ ràng. Như vậy nơi đó sát na đó mắt thấy tai nghe thân cảm xúc tất cả những cái đó nói lên một điều là sự hằng biết đã có sẵn, cái hằng biết đó nó không động. Còn nếu ngay đó ta phân biệt suy nghĩ lăng tăng làm mọi điều tất cả ta động. Người hành giả tu học phải lặng cái biết động để thể hiện cái biết hằng có thanh tịnh.

Cái biết của thấy, nghe, cảm xúc bản chất của chúng không có động, không xấu – Xấu động hay không là do ta phân biệt chia chẻ, cảm thọ tốt xấu mà sanh ra nhiều điều, nhiều chuyện thị phi. Nếu thấy biết cảm xúc mà phân biệt nó sẽ huân tập vào căn, tàng thức để giữ lấy, có duyên nó sẽ đem ra để so sánh phân biệt. Nếu chúng ta cứ sống mãi như vậy là chúng ta sống trên sự nghiệp huân tập giả hợp phân biệt mà có, gọi là “sở tri chướng”. Thế gian này chúng ta khó thoát khỏi cái đó.

Ngay nơi pháp môn tu Mật chú Chuẩn Đề, mọi cá nhân hành giả phải biết thật rõ ràng cái hiện tướng của sự biết huân tập, vọng động trên. Để khi chúng ta sống tu tập được an lạc thoải mái. Người tu Mật chú Chuẩn Đề trong sự sống hàng ngày, lấy sự sống sinh hoạt trong đi, đứng, nằm, ngồi luôn tạo cái biết nổi lên trong nội thức trong từng sự vật vạn pháp, phải thấy biết, nghe biết – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Trong pháp tu quán nghe soi thấy biết thần chú như vậy, thì ngay nơi từng sát na quán soi nghe thất đó bao giờ người hành giả Mật chú Chuẩn Đề cũng thể hiện lên cái biết hằng có không động ngay nơi đấy. Người hành giả Mật chú Chuẩn Đề phải tỉnh giác mà lặng lẽ thanh tịnh, nghe biết thần chú đó để từ từ sẽ hóa giải cái nghe biết hằng ngày sanh diệt vọng động của ta trong cuộc sống. Biết như vậy ta sẽ nhẹ nhàng thoải mái khi lăn lộn trong cuộc sống.

Áo Bẩn Trong Lòng Hãy Vứt Đi
Khoe Chi Tinh Tấn Bên Ngoài Ấy


Ngay văn tự đó ngài Huyền Giác đã chỉ cho ta thật rõ ngay nơi sự tỉnh giác tu học đó, hàng ngày hàng giờ ta đã biết được sự biết hằng có không động, thì cũng ngay nơi đó những cái biết vọng động nó cũng tự hóa giải. Mà nó đã tự hóa giải thì thân tâm người hành giả nhẹ nhàng, an lạc hạnh phúc, nó sẽ thể hiện ngay cái hạnh tu học của người đệ tử Phật, đâu cần phải dùng điều này điều nọ thị phi khoe cái gì hết, cứ nhẹ nhàng an lạc đó là sự chân thật bất hư

Chẳng Cần Cửa Tía, Chẳng Cần Rừng
Rốt Cuộc Chỗ Nào Chẳng An Tâm
Thế Nhân Trọn Thấy Ngàn Non Sáng
Mấy Kẻ Lắng Nghe Tiếng Vượn Trầm.



Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:01:26(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#16 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết

PHẨM 15


Chánh Văn

Tùng Tha Báng, Nhậm Tha Phi,
Bả Hỏa Thiêu Thiên Đồ Tự Bì
Ngã Văn Kháp Tự Ẩm Cam Lộ
Tiêu Dung Đốn Nhập Bất Tự Nghì

Dịch Nghĩa

Mặc Người Báng, Mặc Người Chê,
Cầm Lửa Đốt Trời Tự Nhọc Ghê!
Ta Nghe Như Uống Cam Lồ Vậy
Tan Hết Vào Trong Chẳng Nghĩ Nghì


Ở đây ngài Huyền Giác nói lên sự chứng ngộ tự tâm Thanh tịnh, khi người hành giả đã thể hiện được sự lẳng lặng hằng biết Thanh tịnh rồi, thì đối với họ mọi pháp, mọi vật đều bình đẳng cả. Cho nên sự khen cũng như chê không có thể làm vướng bận người hành đạo tu học. Những lời khen chê phỉ báng không làm người biến động, tâm sư vẫn luôn rỗng rang, tất cả không thọ cảm, không dính mắc, thì sự phỉ báng đối với Ngài như cầm lửa đốt trời, trời cao mênh mông rỗng rang làm sao đốt được, châm lửa lên để đốt trời, lửa kia sẽ cuồn cuộn cháy vào tay mình, sức nóng ấy bay vào người mình. Ở đây sự nhắc nhở lại cho người hành giả hãy vững tin, tin sâu chắc vào Phật pháp, chuyên tâm tu quán soi tự tánh thanh tịnh của mình. Khi mọi chuyện đã phơi bày, thì cái chuyện thị phi, phỉ báng nó không có giá trị gì cả, cái tánh thanh tịnh hằng biết đó là thân mình, thì cái gì đốt lấy nó, nhấn chìm lấy nó, không có cái gì làm ô uế nó cả.

Mặc Người Báng, Mặc Người Chê
Cầm Lửa Đốt Trời Tự Nhọc Ghê!


Ở đoạn kinh luận này nó sẽ giúp cho người hành giả không bị biến động vọng động trước những lời phỉ báng chê bai, ngay nơi đây họ trở về với tự tánh hằng biết đó, thì đâu có ngại gì. Ngài Huyền Giác nói khi bị người phỉ báng chê bai đối với Ngài như:

Ta Nghe Như Uống Nước Cam Lồ vậy,
Tan Hết Vào Trong Chẳng Nghĩ Nghì


Một lời nói đầy đủ Trí huệ đạo hạnh của một người tu chứng đắc thanh tịnh tánh.Ngay nơi đây người tu Mật hạnh Chuẩn Đề cũng vậy, khi người chê bai phỉ báng, hãy lắng nghe trong tiếng chửi chê bai đó là – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Người ta chửi mình nhiều tức là ngay nơi đó ta đang trì niệm, vì mình đang thực hiện phép tu quán âm – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Ngay nơi ngài Huyền Giác nói :

Ta Nghe Như Uống Nước Cam Lồ
Tan Hết Vào Trong Chẳng Nghĩ Nghì


Còn người hành giả Mật tông cũng tự nói với mình rằng. Ta nghe như – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, thần chú ấy sẽ tan vào trong vạn niệm, không phút giây phân biệt, ta tu như vậy thì ngay nơi đó cái tự tánh thanh tịnh, cái hằng biết nó vẫn thể hiện lên Mật chú Chuẩn Đề - Mật hạnh của người hành giả sẽ miên mật vĩnh hằng trong cuộc sống chúng ta. Người hành giả tu theo Mật hạnh Chuẩn Đề là luôn luôn đi vào đời với tâm tĩnh. Nếu chúng ta không tĩnh trong từng giờ phút sát na, thì ta không biết ngay nơi vọng niệm, giác niệm đó – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.

Người hành giả Mật chú Chuẩn Đề phải nên tu trong sự sống của mình, tu trong 6 cửa : Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý – Từ trong từng cảm xúc, trong từng giác niệm, từng vọng tưởng hãy nhìn nó, biết nó, biết từng vọng tưởng nó thể hiện lên, để ngay nơi sát na sanh diệt đó ta tự nghe – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm

Ngày Ngày Khi Đối Cảnh
Cảnh Cảnh Tự Tâm Sanh
Tâm Cảnh Xưa Nay Không
Chốn Chốn Ba La Mật


Tuệ Trung Thượng Sĩ




Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:03:59(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#17 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết

PHẨM 16


Chánh Văn

Quán Ác Ngôn Thị Công Đức
Thử Tắc Thành Ngô Thiện Tri Thức.
Bất Nhân San Báng Khởi Oan Thân
Hà Biểu Vô Sinh Từ Nhẫn Lực.


Dịch Nghĩa

Xem Lời Ác, Chính Công Đức,
Đây Thực Vì Ta Thiện Tri Thức.
Chẳng Do Phỉ Báng Dấy Oán Thân,
Sao Tỏ Vô Sinh Từ Nhẫn Nhục.


Trong phẩm này đức Huyền Giác đã thể hiện lên tinh thần vô ngã không tướng. Ngài đúng thật là một vị Thiền sư đắc đạo giải thoát, không bị ràng buộc trong vọng niệm, vọng tình. Người đã rất mạnh dạn, nhanh lẹ tỉnh giác thấy những nghịch cảnh chướng duyên đều là trợ duyên lành, là thiện tri thức, là Bồ tát giúp Ngài trên đường tu học.

Xem Lời Ác, Chính Công Đức,
Đây Thật Vì Ta Thiện Tri Thức.


Ngài luôn lấy nghịch cảnh, luôn lấy những lời phỉ báng trái tai gai mắt, mà làm thiên tri thức thức giúp mình tu. Có những lời phỉ báng nặng nhẹ, nó mới chân thật giúp ta nhẫn nhục, ngay nơi đó những hành động diễn ra cùng nội dung chi tiết ồ ạt đến với mình, mà mình tỉnh giác xem nhìn biết nó luôn là pháp vô thường, không thật thể do sự huyễn hợp mà thành, do nội dung chi tiết ý thức hệ nhiều đời nhiều kiếp tạo nên, rồi giả hợp phân định vấn đề này vấn đề khác thiện, ác, ta, người. Thành ra một loạt vọng tưởng, vọng niệm. Trong vấn đề thị phi, nếu chúng ta tỉnh giác nhìn thấy chúng ở nhiều giai đoạn, nhiều chi tiết, nhiều thời gian quá khứ, hiện tại, vị lai mà xôn xao tạo thành, chứ thực chất chúng không có tướng nhất định của nó.

Như ở niệm giận, hờn, si mê chúng ta thấy ngay nơi đó do sự chất chứa nhiều đời phân định, là lời nói đó nói ra xấu, lời nói đó nói ra tốt. Trong vấn đề lời nói đó, nó cũng duyên hợp ở nhiều chi tiết khía cạnh cuộc sống riêng mà hình thành. Khi nghe lời trái tai liền giận, vì tướng giận, sự nóng này chất chứa trong lòng đã nhiều đời thành tập nghiệp. Khi nghe lời nói trái tai, hình ảnh không thích ảnh hưởng đến sự hiểu biết của mình, thì ngay nơi đó “ tướng giận” phát lên. Khi tướng giận nóng nảy, khí huyết sôi sục, tim đập nhanh, mạnh, lượng máu bơm ra hút vào nhiều nhanh, tạo nên nhiều làn sóng não, khiến cho rất nhiều cảm giác, cảm xúc tạo thành sự bấn loạn của hệ thần kinh cảm giác, thần kinh giao cảm khiến cho tay chân quơ qua quơ lại chuyển động. Sự chuyển động này gọi là “ lực” sức rung động chuyện động cho tập nghiệp chủ động, gọi chung là “nghiệp lực”. Cái lực này, nó tác động lên thân, khẩu, ý gây tạo nghiệp – Tác động lên khẩu khiến người ta chửi rủa mắng nhiếc lời nói độc, lời nói hiền, lời hung dữ. Rồi lên thân khiến cho tay chân chúng ta động thủ, phải theo mệnh lệnh của nghiệp lực kia đánh đập, xoa dịu, tàn ác hay hiền từ tùy theo tập nghiệp huân tập của chúng ta và nó sẽ tác động lên ý. Nếu ý thức hỗn loạn, ngay nơi đó tỉnh giác “nghiệp lực” sẽ đẩy những chủng tử ý niệm lành để người tạo tác thiện.

Qua cái nhìn sự giả tướng duyên hợp, giả tạo hình thành nghiệp lực trên. Nếu người hành giả tĩnh tâm tu hành trở về với cái biết hằng có thanh tịnh, thì nghiệp chướng kia; tướng giận, tham, sân, si kia nó cũng tĩnh vì bản chất chúng không có động. Động là do chúng ta vọng tưởng phân biệt, phân chia ta, người, tốt, xấu. Thành ra tạo nghiệp. Còn người, ngay nơi đó tỉnh giác biết giận là duyên hợp, chỉ biết giận ngay đó tỉnh giác ngay đó, thì cái biết hằng có đó đâu có ảnh hưởng gì với sự giận hờn, tham si. Cho nên ngay đó người hành giả thoải mái, an lạc không bị vọng động cuốn lôi vào tạo nghiệp. Những hình ảnh, vọng niệm, vọng thức của nghịch cảnh đến, họ lấy ngay nơi nội dung chi tiết đó mà tu học. Con người tu hành trong sự khổ đau ràng buộc đó mà tu thuần thục, thì mới thật sự là một con người thoải mái an lạc. Muốn tự tại, an lạc thì phải biết sống thật sự trong sự ràng buộc đau khổ, nhận thấy tính chất nội dung của nó, thì ngay nơi đó sự giải thoát an lành sẽ thể hiện.

Chẳng Do Phỉ Báng Dấy Oán Thân
Sao Tỏ Vô Sinh Từ Nhẫn Lực


Trong cuộc sống tu học, người hành giả có phúc duyên lớn sẽ nhận được bài học vô giá, sự chửi bới, phỉ báng đến với người hành giả là một bài học vô giá để chính ngay nơi đó tâm thức đó họ thể hiện sự nhẫn nhục, cái lực, sức mạnh của nhẫn nhục nó được đo tính ngay nơi những hành trạng nghịch với người hành giả. Sự nghịch cảnh đến càng cao, càng dầy thì sự nhẫn nhục, lực nhẫn nhục sẽ cao dày. Khi người hành giả quán soi, xem nó như những vở kịch giả hợp do tập nghiệp đạo diễn mà thành. Khi người hành giả quán soi theo Trí Bát Nhã rộng lớn, soi thấy sự vật giả hợp không thật tướng như trên, thì khi đó họ nhẹ nhàng, thoải mái tỉnh giác để “ Tri huyễn tức ly huyễn” và đến một lúc nào đó, cái sự tri đó cũng nhẹ nhàng nữa, thì mới chính là vô sinh nhẫn – nhẫn nhục ba la mật.

Bồ tát Đề Bà ngày xưa người cảm hóa rất nhiều đệ tử ngoại đạo quy y theo Ngài, nên người ngoại đạo oán hận tìm cách hại người. Một hôm thấy Người đi một mình trong rừng, số người ngoại đạo kia cầm dao đến uy hiếp, mổ bụng Người – ngũ tạng lòi ra nhưng chưa chết. Mặc dù Ngài bị ngoại đạo kia tàn nhẫn đến với Ngài như vậy, nhưng Ngài vẫn với tâm yêu thương nói: “Ta có y bát để chỗ kia ngươi hãy đến lấy, rồi chạy lên núi gấp đi, đi đường núi chứ đừng đi đường bằng, đệ tử của ta chưa được pháp nhẫn sẽ bắt người giải đến quan chịu tội”.

Như vậy, ngay nơi câu chuyện này, chúng ta thấy lòng từ nhẫn nhục vô lượng của vị Bồ Tát khi bị người hại mình, mà còn tỉnh táo chỉ cho họ lấy đồ của mình, còn chỉ rất rõ ràng cặn kẽ đường đi nước bước để khỏi bị hại. Ở đây qua câu chuyện này, chúng ta cũng nên nhìn lại sự từ bi nhẫn nhục của mình. Mình hiện nay chỉ vì một chút lợi nhuận nhỏ thôi thì cấu xé, nói này kia, ganh ghét đủ thứ. Ngã mạn, ngã chấp của mình quá lớn. Qua bài này, hãy tự mỗi người chúng ta thử so sánh theo hạnh lành của Ngài Huyền Giác cùng vị Bồ tát kia coi sao? So với nhau để biết chút ít sự tu học, con đường tu học, hạnh nguyện của mình coi sao. Chứ ngay nơi chúng ta từ ở ngay nơi cái miệng, miệng nói rất tốt nhưng trong lòng rất phức tạp, phiền toái hại người. Nếu chúng ta vấp phải những sự hiềm khích, không nhẹ nhàng xoa dịu bỏ qua với nhau, thì con đường đi hạnh nguyện tu học của chúng ta có đúng không? Đây là một câu hỏi cùng hình ảnh ý niệm trong bài, cũng rất mong mỗi chúng ta hãy nhìn lại quán soi lại để tiếp tục tu học.

Để trở lại câu chuyện trên, khi nghe tin Ngài bị như vậy, đệ tử Ngài chạy đến tức giận, cùng nhiều người rượt đuổi bắt. Nhưng ngay nơi đó Ngài ngăn lại và ân cần hòa nhã dạy đạo “ Lẽ thực các pháp chính là ở chỗ không có người thọ, không có người hại. Thân ai? Oán ai? Giết ai? Hại ai?” .Ngài khai thị ra một số câu hỏi như vậy để nhằm chỉ “ Không có người cũng không có ta”. Ngay nơi câu trả lời khai thị này nó đã thể hiện lên tinh thần Bát Nhã vô ngã, vô pháp, vô tướng để chỉ cho ta cái nhẫn nhục vô sinh. Ngay nơi đây, chúng ta sẽ thấy cái gốc của sự tu hành của một vị Bồ tát kia. Cho thấy không có ta, không có người, thì cũng sẽ không có người hại và cũng không có người bị hại. Mà mà người đã nhìn thấy như vậy, thì người đó đã có cái hằng biết tự tánh Thanh tịnh, mà đã biết được cái hằng biết đó rồi, thì việc hại người, hại ta, oán hận nhau chỉ là cái sự trả vay nghiệp lực thôi.

Qua phẩm này, người hành giả tu theo Mật hạnh Chuẩn Đề rất phù hợp, vì hàng ngày trì niệm tâm thể hiện – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm lên toàn bề mặt của vạn sự, vạn pháp. Ngay nơi nào? thời gian nào? Thần chú dó cũng có mặt đồng với cái hằng biết đó. Đã đồng với cái hằng biết đó, thì vạn pháp bình đẳng. Chính những lời phỉ báng khen chê, cùng những sự việc nghịch cảnh đến, cũng đều thể hiện: Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm

Năm Xưa Nghèo Chưa Thật Nghèo
Năm Nay Nghèo Mới Thật Nghèo
Năm Xưa Nghèo Vẫn Còn Có Đất Cắm Dùi
Năm Nay Nghèo Dùi Cũng Không!

Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu Chánh Trí





Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:06:02(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#18 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết
PHẨM 17



Chánh Văn


Tông Diệc Thông, Thuyết Diệc Thông,
Định Tuệ Viên Minh, Bất Trệ Không.
Phi Đản Ngã Kim Độc Đạt Liễu,
Hằng Sa Chư Phật Thể Giải Đồng.


Dịch Nghĩa

Tông Cũng Thông, Thuyết Cũng Thông,
Định Tuệ Sáng Tròn Chẳng Trệ Không.
Đâu Phải Mình Ta Nay Tỏ Suốt,
Hằng Sa Chư Phật Thể Chung Đồng.


Ở đây nói đến tông là nói đến cái vô tông. Vì tất cả pháp đều không có tướng nhất định, do sự giả hợp mà thành. Cho nên đức Phật bảo rằng không, cái không tông đó, không phải không ngơ, không có. Nhưng nó được sự giả hợp, nó không thật thể của nó. Cái không ở đây là cái không thật thể, nhưng ngay nơi đó có cái diệu dụng, diệu hữu của nó.

Qua tất cả các tướng, các pháp. Chúng ta đều thấy sự duyên hợp giả có của nó, nhưng từng pháp, từng đơn vị, vạn pháp nó đều có cái biết diệu hữu của nó. Cái biết của Tuệ giác, khi tất cả các duyên, vạn pháp thể hiện lên mà ta không chấp dính, chấp giữ nó, thì sự tỉnh giác lặng lẽ “ định” được thể hiện. Khi định tĩnh lặng đó bao giờ nó cũng tỉnh tỉnh, kèm với lặng lặng. Cái lặng đó là định, cái tỉnh tỉnh giác biết hằng có đó là Huệ. Cho nên định và tuệ đều có cả thảy sự vật, vạn pháp trong đó. Nhưng không dính mắc ở đó, không dính mắc nhưng biết rành rẽ, sự biết của Tuệ giác. Do nó rộng lớn toàn phủ trên vạn vật, vạn pháp. Cho nên nó viên dung, sáng tròn.

Tông Cũng Thông, Thuyết Cũng Thông
Định Tuệ Sáng Tròn Chẳng Trệ Không.


Khi cái định, cái Tuệ đó sáng tròn, thì như mặt nhật chiếu vạn vật, vạn vật đều hiển bày trong cái trong sáng đó. Khi đã chiếu soi hiển bày, thì tất cả đều nói lên tánh không vạn hữu, tánh biết hằng có sáng tròn viên dung, thì tất cả đều là Phật pháp, thì tông và thuyết cũng đồng như nhau, thiện, ác không còn, người, ta cũng không. Mọi sự mọi vật đều thể hiện lên sự “ thuyết”. Tức nói lên chính cái biết của mình. Như vậy Phật pháp không có biên kiến, đoạn diệt nghiêng về một khía cạnh nào cả. Ngay nơi giáo thuyết, người hành giả với tâm chân thật liễu nghĩa sẽ thấy ngay ý của Chư Phật, Chư Tổ mà huyền nhiệm tu chứng giải thoát. Phật pháp không nhất định là vậy. Cho nên có một số quý vị bảo rằng Phật pháp bất lập văn tự, ly văn tự ngữ ngôn. Khi chúng ta suy nghĩ nói như vậy là mình nghiêng lệch một bên. Bởi ngay nơi kinh giáo của Phật đâu có lỗi, lỗi là do người chấp nặng vào kinh giáo, khư khư dính cứng. Cho nên trở thành ngăn ngại.


Còn nếu người sáng tâm, xem kinh văn giáo điển nhân ngay nơi đó những lý sâu ngoài lời, thấy được ý vượt ngoài chữ nghĩa văn tự, hợp với tâm Phật thì ngay nơi đó tâm Phật sẽ ấm lên tâm ta, đem tâm đó tu học dạy người thì đâu có lỗi gì đâu!

Tâm Phật là sao? Là tâm thể không thị cũng không phi, Phật tánh chẳng hư cũng chẳng thật. Ở đây chúng ta sẽ thấy “thị” là phải, “phi” là quấy, “hư” là giả. Như vậy, nếu chúng ta sống khác với tâm Phật là chúng ta hay sống nói phải, nói quấy, nói giả, nói thật. Đó là một chuỗi sống đầy phân biệt vọng niệm đối đãi, đã đối đãi suy nghĩ thì đầy sự vọng động, đem tâm vọng động đó mà quán soi tu học, thì lời nói, và sự tu tập không thông, tông không thông, thuyết cũng không thông. Khi chúng ta đã thấy bản tâm Thanh tịnh, không dính mắc vào những vọng niệm, thì dùng tâm này quán soi các pháp, quán soi kinh giáo, thì sẽ được lợi ích vô biên.

Để tiến tu trong con đường tu học Mật chú Chuẩn Đề, thì người hành giả phải tự trang bị cho mình một nền tảng Hiển Mật viên thông, phải thấy quán soi biết tất cả vnaj pháp, vạn niệm hiện tướng của nó, biết thật rõ ràng sự kết hợp duyên hợp của chủng nghiệp.

Ngay nơi đây mượn câu chuyện nói lên vấn đề chủng nghiệp vọng niệm. Ngài Ngưỡng Sơn một hôm đến hỏi ngài Thiền sư Trung Ấp:

- Làm sao thấy được Phật tánh?
- Ta vì ông nói một thí dụ: “Như một nhà có 6 cửa, trong có một con khỉ, ngoài có một con khỉ, từ bên Đông kêu “chóe chóe”, bên trong cũng kêu “chóe chóe” , đáp lại 6 cửa đều kêu, đều đáp như vậy”.
Ngưỡng Sơn lễ tạ thưa:
- Vừa rồi nhờ Hòa Thượng ví dụ, con đều biết rõ, lại có một việc, ví như con khỉ ở bên trong ngủ, con khỉ ở ngoài muốn gặp phải làm sao?
Thiền sư Trung Ấp bước xuống giường thiền nắm tay Ngưỡng Sơn múa nói:
- Chóe! Chóe! Cùng ông thấy nhau rồi!.

Câu chuyện như vậy, thấy nó rất đơn giản, nhưng làm hứa một giáo nghĩa vi diệu “thuyết thông”. Con khỉ ở ngoài dụ cho 6 trền, khỉ ở trong dụ cho tâm sanh diệt. Bên ngoài vừa có; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì tâm sanh diệt ở trong dấy lên chạy theo, phản ứng phân biệt liền lăng xăng. Đó là hình tướng con khỉ trong nhà, nó đang thức, nên kêu chóe chóe liên tục. Nếu ngay nơi đó con khỉ trong nhà nó ngủ sâu, khỉ ở ngoài nó kêu, nó múa mặc nó, ở trong cứ ngủ. Cũng vậy khi tâm sanh diệt phân biệt trong căn thức lặng rồi, dù có đối trước bao nhiêu ngoại trần, tâm vẫn tỉnh biết rõ ràng tường tận, không dính mắc. Như vậy, khi đó là cái hằng biết thể hiện. Đó là hiện tượng quán soi các pháp rõ ràng, mà người hành giả Mật chú Chuẩn Đề phải biết, phải tường tận nó. Khi đã biết như vậy rồi, ta lấy Mật chú Chuẩn Đề - Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm để nuôi dưỡng cái Thánh thai đó. Niệm – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, ta tập nghe biết như vậy, ta nghe biết với cái nghe biết không sanh diệt loạn động, lần lần – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm nó sẽ thể hiện theo cái biết hằng có đó. Khi đã thể hiện được cái biết hằng có đó, thì thường, lạc, ngã, tịnh tướng của Niết bàn cũng đến, thì sự đồng của chúng sanh và Phật ở đây sẽ thể hiện trên Phật tánh Thanh tịnh đồng thể. Ngài Lâm Tế cũng nói :
- Này huynh đệ! Theo chỗ thấy của sơn tăng chẳng khác với Đức Thích Ca, hiện nay bao nhiêu chỗ dung có thiếu thốn gì? Dù cách xa Phật bao nhiêu năm, ngàn năm? Nhưng cái thấy ấy vẫn đồng.



Đâu Phải Mình Ta Nay Tỏ Suốt
Hằng Sa Chư Phật Thể Chung Đồng.




Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:08:11(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#19 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết
PHẨM 18



Chánh Văn:

Sư Tử Hồng, Vô Úy Thuyết
Bách Thú Văn Chi Giai Não Liệt
Hương Tượng Bôn Ba Thất Khước Uy,
Thiên Long Tịch Thính Sinh Hân Duyệt.

Dịch Nghĩa:

Sư Tử Rống, Thuyết Vô Úy
Trăm Thú Nghe Qua Đều Tét Tủy,
Voi Lớn Chạy Dài Mất Hết Uy,
Trời Rồng Lặng Ngóng Sinh Hoan Hỷ.

Lời nói của sư là một lời nói của người chứng ngộ, lời nói hành động này nó phát từ tự tánh Thanh tịnh. Nơi đó không có một vật, một hình nào cả. Trong cái chân không tự tánh đó phát ra lời nói “diệu hữu”, cái diệu hữu này, nó mang tính chất của kim cang bất hoại, vì nó có trong cả vạn pháp và nó cũng ly vạn pháp, tới lui tự tại không có sự ràng buộc nào cả. Cũng như con sư tử chúa trong trăm thú. Khi sư tử đó rống lên thì:

Trăm Thú Nghe Đều Tét Tủy
Voi Lớn Chạy Dài Mất Hết Uy
Trời Rộng Lặng Ngóng Sinh Hoan Hỷ.


Lời nói ấy từ trong tự tánh Thanh tịnh đó, không phải ai cũng nghe được. Nhiều người khi nghe những lời nói chân thật tự tại ấy đem lòng sinh nghi, nhiều khi còn đem lòng phỉ báng chạy nơi khác. Còn con người thượng căn thượng trí, khi nghe lời nói ấy liền thích, cung kính vâng theo mà tu học. Cuộc sống của chúng ta hàng ngày lăng xăng trong cái vọng nghiệp, vọng thức, chấp ngã tự cao, tự đại, không nhẫn nhục, nhẫn nại được. Khi nghe qua những lời kinh dẫn đại thừa tối thượng thừa của chư Phật, chư Tổ bao giờ cũng sinh nghi, không hạ mình buông cái ngã chấp, coi cái thân, cái danh vọng tự tướng của mình quá lớn, chấp mê vào sự nghiệp vọng thức của mình, mà không biết đó là những tập nghiệp luân hồi sanh tử bao đời quá của mình gây tạo, luôn luôn lúc nào cũng bị một lực vô hình phân định, phân biệt đạo diễn dẫn ta đi. Từ chỗ chấp ngã, chấp pháp trên, khi nghe lời nói chân thật của chư Tổ, chư Phật không thể nào lại chuyển trong tâm mình cả. Vì khi tự mình quán soi chân thật mình lại, thì ngay nơi đó không sám nhìn thật tại, vì thực tại quá phũ phàng, cuộc sống thấm nhuần sự dục lạc, dục vọng. Thấy cuộc đời này toàn là sự thật, lẽ thật nhất định như vậy. Và ngay nơi đó mình cũng rất tự hào là mình đã có một số vốn trí thức, một kho báu kinh nghiệp đã được đào tạo hẳn hoi, được học hành tốt đẹp. Nhưng hôm nay tại sao? Với những ý niệm thể hiện lên, tác động họ bảo rằng, những thứ ấy đó hoàn toàn giả hợp, do các duyên hợp lại mà thành, không có một tướng nào nhất định cả, và những thứ vọng niệm kia, những sự nghiệp tập thức kia, nó cũng chỉ thoáng qua thôi. Như bóng câu qua cửa sổ, như những hạt sương mai buổi sớm, vì lát nữa đây trong sát na nó đã tự từ từ hoại theo từng sát na một. Rồi nó cũng sẽ được hình thành trên từng sát na một. Khi chúng ta nghe thấy như vậy, nếu chúng ta không đủ lòng tin vững chắc nơi Phật đạo, thì một mạch bỏ chạy và còn nói chuyện đó không hay mấy, khó tin. Thật khó tin nếu ai chưa chứng ngộ.

Lục Tổ Huệ Năng cũng đã từng nói: “Pháp môn này gọi là tối thượng thừa, vì người đại trí mà nói, vì người thượng căn mà nói. Còn người tiểu căn, tiểu trí thì nghe đến tâm sinh chẳng tin. Tại sao? Ví như rồng to làm mưa xuống cõi Diêm Phù Đề, Thành ấp xóm làng thảy bị trôi dạt giống như trôi lá táo. Còn nếu mưa xuống biển thì chẳng thêm bớt”
Mưa xuống biển kia cũng như giáo pháp này đến với người thượng căn, thì vui mừng tin nhận tu học. Một pháp môn thật cao quí giúp con người về với tự tánh Thanh tịnh như lai của mình. Tức là chỗ qui đồng của mười phương chư Phật, Phật và chúng sanh cũng đều đồng nhau ở Phật tánh.

Ngay nơi pháp môn tu học của Mật chú Chuẩn Đề cũng vậy, mới ban đầu ngồi xuống để xin nhận pháp, thì ngay đó chư vị hộ pháp đã dùng một lực vô hình để tác động vào thân tâm người đó, để giúp cho người đó biết rằng trong cõi vô hình và biết chắc chắn rằng, năng lực thần chú có uy, đúng như lời đức Phật dạy. Người hành giả, ngay nơi đó rất kính tin.Nhưng về sau tu học, tùy theo nghiệp lực sự tu tập của từng cá nhân, của mọi người sẽ xảy ra những hiện tướng tâm sinh lý khác nhau. Cho nên từ đó, có những cá nhân không có hiện tượng là như lúc trước nữa, sanh ra chểnh mảng. Sự không có tác động đó, không phải là năng lực mật chú không có uy lực tác động nữa, mà do nhiều yếu tố nguyên nhân khác.

1. Là do người hành giả đó công phu bị gián đoạn.
2. Là do sự tu học không đúng theo sự chỉ dẫn, luôn đặt nặng sự tu học của mình trên sự mơ ước viển vông, đặt nền tảng tu học của mình trên tham, sân, si. Mình tham cầu quá độ về lãnh vực tâm linh năng lực, thì ngay đó tướng tham cũng phát tiết “tướng tham” đó là lửa, là sức nóng đang thể hiện trong lòng bạn. Hoặc là si mê cuồng loạn trong vọng tưởng. Khi chúng ta phát xuất tu học, hay huân tập những nền tảng si mê trước, để đến nay trong tu tập phát tiết ra. Khi đã tham, si mê như vậy mà không được thì sân đến, nóng giận. Ba cái đó là ba cái độc toàn là lửa không. Mà là lửa thì là dục vọng, là oán hờn, ganh ghét, cừu địch, chiến đấu, tiêu diệt. Tu như vậy chỉ rước cái họa vào thân. Khi đã thể hiện sự tu của mình trên tham, sân si như vậy. Thì tâm ý của mình hàng ngày đâu có ngồi yên, hay đi đứng nằm ngồi lòng không yên, không yên nó sẽ dẫn… Khi đã tạo nghiệp thì phải trả, nghiệp đến đổ nghiệp nhiều khi quay lại bảo rằng do Phật pháp thần chú mà thành. Thật là một điều vô lý. Phật pháp được thể hiện lên từ tâm Thanh tịnh của chư Phật, chư Bồ tát, Thánh chúng lòng đầy hoan hỷ Thanh tịnh, đầy những hạnh phúc niềm vui, luôn ban cứu giúp khổ cho chúng sanh, chư Phật có bao giờ hại chúng sanh đâu! Lịch sử Phật đạo từ vô thủy vô chung đến nay, luôn đêm con người chúng sanh đến bến bờ giác, giải thoát an lành, an vui.

Nhân quả bao giờ cũng phải hiển hiện, có vay phải có trả. Ta vay tạo, thì ngày hôm nay phải gặt hái. Thần chú Chuẩn Đề là một thần chú chuyên cứu khổ, cứu giúp chúng sanh thoát khổ, chuyên đưa chúng sanh từ nơi khổ ải đến nơi an vui an lạc. Đó là một trong những điều mà người hành giả Mật chú Chuẩn Đề hôm nay vấp ngã. Các bạn hãy tỉnh giác lại, lấy thần chú Chuẩn Đề giúp quí bạn gặt hái lại hạnh phúc, hóa giải nghiệp lực của mình, sự hóa giải nghiệp lực không phải là không trả quả, mà là trả nhẹ lại, vì năng lực của Thần chú nó sẽ làm nhẹ nhàng khi chúng ta tu học. Thay vì ngay nơi thời gian đó chúng ta bị đụng xe, sẽ gãy tay, gãy chân, nhưng ta chỉ bị trầy sước thôi. Nhân quả là phải trả, nhưng nghiệp kia sẽ hóa giải nhẹ nhàng hơn, khi người thọ trì tu học theo Mật chú.

Và ngay phương pháp tu học Mật chú Chuẩn Đề, luôn luôn kết hợp với nền tảng “Hiển Mật Viên Thông”. Hiển giáo là những giáo pháp tối thượng thừa mà ta đã biết qua trong kinh Phật giáo, như Bát Nhã, Kim Cang, Niết Bàn, Viên Giác, Lăng Nghiêm …và những bộ Luận, Trung Quán Luận, Luận Tối Thượng Thừa …Hiển giáo bao gồm tất cả giáo thuyết của Phật giáo, Đạo Phật. Từ những giáo nghĩa kia ta lấy ý quên lời, không chấp nặng nhọc trong giáo thuyết văn tự. Qua đó ta nhìn thấy diệu nghĩa của kinh thuyết, kết hợp với Mật chú Chuẩn Đề tu hoc, thì nó sẽ thành nền tảng tư tưởng tu học: “ Hiển Mật viên thông cứu cánh thành Phật”.

- Khi thấy sắc, nghe tiếng chỉ có vậy! Khi mặc áo ăn cơm chỉ có vậy! – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm.




Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:10:21(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
ThanhHung  
#20 Đã gửi : 31/05/2014 lúc 07:29:34(UTC)
ThanhHung

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-06-2014(UTC)
Bài viết: 2

Cảm ơn: 2 lần
Được cảm ơn: 1611 lần trong 329 bài viết
PHẨM 19




Chánh Văn

Du Giang Hải Thiệp Sơn Xuyên.
Tầm Sư Học Đạo Vị Tham Thiền
Tự Lòng Nhận Đắc Tào Khê Lộ,
Liễu Tri Sanh Tử Bất Tương Can.


Dịch Nghĩa

Qua Sông Biển, Vượt Sơn Xuyên
Tìm Thầy Hỏi Đạo Khắp Tham Thiền.
Từ Khi Nhận Được Tào Khê Lối
Rõ Ra Sanh Tử Chẳng Tương Can.


Phẩm luận này đức Huyền Giác nói lên sự học đạo của Ngài rất cực khổ, cũng đã từng lội suối, băng đèo, quảy túi đi hàng trăm cây số đói khát. Qua bài luận này, chúng ta suy nghĩ lại xem, giữa lúc bây giờ chúng ta học đạo thật dễ ít tốn công. Công sức bỏ ra rất ít, việc học đạo rất dễ đâu đâu cũng có Thầy, có kinh sách in phổ biến khắp nơi, giảng thuyết cũng khắp nơi. Tự chỗ dễ dàng kia mà đôi khi chúng ta giãi đãi không cố tâm, quyết chí tầm học hỏi đạo. Hở ra một chút khi va chạm đến lòng, đến ý niệm, danh dự ngã chấp của mình, lại giận hờn bỏ đi để tìm người khác. Vì hiện nay thật nhiều Thầy, nhiều sư giảng thuyết khắp nơi, chùa chiền mọc lên như nấm, bước vài bước, đi vài cây số là có Thầy, có chùa ngay. Kinh điển được in ra rải khắp mọi nơi, nhiều hình thức khác nhau. Có chỗ cho, có chỗ bán rất tiện lợi. Khi người tầm hỏi đạo thấy không thích Thầy này, đi tìm Thầy khác. Thấy Thầy này không theo ý mình, không đúng với nhóm của mình, chạy qua chạy lại. Mỗi chỗ đến huân tập một chút, rồi huân tập trong kinh giảng, mỗi cái chất chồng lên nhau, chứa đầy dẫy trong tàng thức, căn trần của mình. Nếu chúng ta không tỉnh giác quay về tự tâm Thanh tịnh, thì dong ruổi càng ngày càng xa đạo. Vì mỗi lần nghe kinh giảng, nghe thầy thuyết đem về ôm ấp trong lòng của mình, chất chứa thành một đống kinh nghiệm. Mang đống kinh nghiệm đó đi khắp nơi, gặp ai cũng đấu lý đấu pháp, không chịu quán soi lại tự tánh của mình mà tu học.

Hai còn đường đều tu cả, một con đường là ta cũng huân tập kinh sách, luận giải Phật pháp mà không quay lại tự tánh Thanh tịnh của mình, chỉ đem sự huân tập đó bao đầy ngã chấp của mình. Còn con đường thứ hai, khi huân tập Phật pháp cũng nghe kinh giảng luận. Nhưng ngay nơi đó người hành giả đó tỉnh giác lại, thấu hiểu diệu nghĩa lý sâu này, quên chương cũ, ngữ ngôn, không chấp vào ngữ ngôn luận giải đó mà đấu lý, đấu pháp cho rằng ta hay, ta đạt đạo. Chứ họ đâu biết rằng, những cái mà họ huân tập trong tâm, trong căn, tàng thức chất chưa thành kinh nghiệm, ý thức hệ. Những thứ mà họ cho là hay, là cao thượng trên, cũng đều lấy của nhiều người khác, hoàn toàn của người khác và do ta vọng tưởng mà xây dựng lên, rồi mình lấy đem về bảo rằng của mình.

Còn con người quay về quán soi được tự tánh Thanh tịnh, họ nhìn thấy tất cả không thật tướng, do sự giải hợp mà nên. Cho nên họ sống cũng như tu đạo, lấy lẽ sống hàng ngày của mình mà tu mà sống. Một sự sống chân thật an lành, họ không nặng nhẹ ở bất cứ một giác niệm, vọng niệm nào cả. Vọng tưởng và chân tánh không hai, bỏ một giữ một cũng không phải. Vọng tưởng lăng xăng như sóng biển, chân tánh bao rộng như mặt biển cả. Sóng với mặt biển không hai. Ở ngay đây, chúng ta nói một cũng không được, nói hai cũng không. Nếu ly sóng biển thì không có mặt biển, ly mặt biển thì không có sóng. Như vậy khi quán soi thật tướng, chúng ta sẽ thấy sóng không dấy động thì thấy toàn mặt biển. Không phải dẹp, phải đưa sóng đi nơi khác mà thành mặt biển. Vọng tưởng cũng vậy. Vọng tưởng không động thì tự tánh hiện, sóng ấy từ mặt biển mà dấy lên, rồi sóng lặng về mặt biển. Không có sự bỏ, đưa đem đi nơi khác, cũng không có sự giữ lại. Như vậy bỏ và giữ là hai, nhưng sóng và biển không hai, thì chuyện bỏ giữ sao làm được, phiền não và thanh tịnh chỉ một mà thôi. Ngay nơi đây, chúng ta phải tỉnh giác nhìn lại cho kỹ, quán soi cho đúng thì sự tu của mình sẽ không vướng ngại. Nếu bỏ vọng tâm giữ chân tánh đó là người ngu. Như vậy, thì chúng ta không biết bóng ấy cũng từ trong gương mà ra, sóng biển kia cũng từ trong biển mà ra. Vọng tưởng khởi ra là khởi từ chân tâm, chân tánh. Cũng như sóng biển khởi lên cũng từ mặt biển, rời mặt biển làm gì có vọng tưởng, rời chân tâm sao có vọng tưởng.

Như vậy qua chi tiết trên chúng ta có thấy vọng tưởng có đáng sợ không? Nếu không đáng sợ để nó khởi lên luôn luôn như vậy có được không? Ở ngay đây mới là sự tu hành, đức Huyền Giác đã lặn lội trèo non, vượt suối cuối cùng gặp đạo Tào Khê, gặp Lục Tổ mới ngộ ngay cái lý Bát Nhã trên, vì đức Lục Tổ Huệ Năng luôn thể hiện đạo trong bàng bạc sự sống của mình, vạn niệm vạn vật kia nó cũng trong tâm chân tánh Thanh tịnh. Khi vọng tưởng nổi lên, thì ngay nơi đó giác niệm cũng nổi lên, giác niệm ấy là trí Bát Nhã, cái biết hằng có. Nó luôn luôn biết không ngưng ngại trong vọng tưởng. Nếu tất cả vọng tưởng, vọng niệm nổi lên, không có cái biết ở trong đó thì không bao giờ có vọng tưởng, có cái biết mới biết vọng tưởng. Nhưng cái biết ở đây là cái thường biết, nó không chạy theo vọng niệm để phân biệt. Nếu chạy theo vọng niệm để phân biệt, tức là cái biết vọng động. Còn cái biết của trí Bát Nhã hằng có, không vọng động một cái biết chân thật. Cái biết đó bao đời, bao kiếp từ vô thủy, vô chung đến nay, nó không hơn, không kém, không tăng, không giảm. Cái biết đó nó sẽ chứng minh cho chúng ta rằng trong vạn niệm, trong mỗi cử động, trong tất cả nó đều biết. Nếu không có nó ta không biết gì cả.

Từ Khi Nhận Được Tào Khê lối,
Rõ Ra Sinh Tử Chẳng Tương Can.

Lục Tổ từng dạy: “ Môn tọa thiền này vốn chẳng dính mắc tâm, cũng chẳng dính mắc nơi tịnh, cũng chẳng phải là chẳng động”. Thiền ở đây không dính mắc ở sự động và tịnh.

Nếu dính mắc tâm thì tâm vốn là vọng, biết tâm như huyễn nên không, không có chỗ dính mắc. Nếu nói dính mắc tịnh thì tánh người sẵn tịnh, do vọng niệm nên che lấp chân như, chỉ không vọng tưởng thì tánh tự tánh Thanh tịnh. Còn khởi cái tâm dính tịnh thì sinh ra tịnh vọng.

- Một câu nói thật thoải mái nhẹ nhàng, ngay nơi ấy người hành giả sẽ tìm được sự an lạc của chính tự tâm của mình, thật không uổng công ngài Huyền Giác đã lặn lội tìm Ngài. Công sức trí huệ của cá Ngài rất đáng ngàn đời kính cẩn vâng theo – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, công sức đó, trí tuệ đó cũng là Mật chú Chuẩn Đề, người hành giả phải biết tự tánh Thanh tịnh của mình, các pháp là như thế để vào cuộc sống sinh hoạt hàng ngày ca bài ca – Úm Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha. Bộ Lâm, âm diệu đó sẽ du dương lan tỏa trầm bổng trong vạn sự, vạn vật muôn thuở.

Tâm Vương Không Tướng Cũng Không Hình
Mặt Tựa Ly Châu Vẫn Chẳng Minh
Muốn Biết Loại Này Chân Diện Mục
Ha! Ha! Giữa Ngọ Là Canh ba.




Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu Chánh Trí

Sửa bởi quản trị viên 17/09/2014 lúc 02:11:45(UTC)  | Lý do: Chưa rõ


Cư sĩ Thanh Hùng
Pháp hiệu: Thích Chánh Trí
thanks 1 người cảm ơn ThanhHung cho bài viết.
Tieuhoathuong. trên 24-09-2014(UTC) ngày
Ai đang xem chủ đề này?
Guest
3 Trang123>
Di chuyển  
Bạn không thể tạo chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bạn không thể trả lời chủ đề trong diễn đàn này.
Bạn không thể xóa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể sửa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể tạo bình chọn trong diễn đàn này.
Bạn không thể bỏ phiếu bình chọn trong diễn đàn này.